Hội nhập và kỳ vọng tăng tốc phát triển

0:00 / 0:00
0:00
(BĐT) - Bên cạnh tự do hóa, hội nhập quốc tế là một trong hai định hướng chiến lược cơ bản của công cuộc đổi mới. Quá trình hội nhập quốc tế đã góp phần đổi mới tư duy hoạch định chính sách, hoàn thiện các chuẩn mực quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp, từng bước mở rộng quy mô thị trường hàng hóa và dịch vụ, nâng cao vị thế đất nước, nhưng cũng gia tăng những thách thức, đòi hỏi phải cải thiện năng lực cạnh tranh để tận dụng tốt nhất cơ hội phát triển.
Hội nhập quốc tế mang lại cho Việt Nam nhiều thành tựu to lớn về kinh tế. Ảnh: Tiên Giang
Hội nhập quốc tế mang lại cho Việt Nam nhiều thành tựu to lớn về kinh tế. Ảnh: Tiên Giang

Những dấu mốc mở cánh cửa thương mại và đầu tư

Điểm lại những dấu mốc quan trọng của quá trình hội nhập quốc tế trong gần 40 năm qua, dấu mốc khởi đầu là năm 1986, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI quyết định triển khai chính sách Đổi mới, mở đầu cho quá trình cải cách kinh tế - xã hội, từ đó bắt đầu mở cửa hội nhập quốc tế.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng

TS. Nguyễn Sĩ Dũng

Dấu mốc thứ hai là năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập khu vực.

Dấu mốc thứ ba là năm 2000 - năm ký kết Hiệp định Thương mại song phương (BTA) Việt Nam - Hoa Kỳ, mở ra cơ hội mới cho xuất khẩu và thu hút đầu tư.

Dấu mốc thứ tư là năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cam kết mở cửa thị trường và tuân thủ các quy định thương mại quốc tế.

Dấu mốc thứ năm là năm 2015, Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), dù sau này Mỹ rút lui và thỏa thuận thay thế bằng Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Dấu mốc thứ sáu là năm 2018, Việt Nam ký kết Hiệp định CPTPP, thể hiện cam kết mạnh mẽ hơn trong việc hội nhập kinh tế quốc tế.

Dấu mốc thứ bảy là năm 2019 - ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA), mở ra cánh cửa mới cho thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước EU.

Dấu mốc thứ tám là năm 2020, Việt Nam ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) - hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia thành viên ASEAN và 5 quốc gia đối tác là Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand, tạo thành một trong những khối thương mại tự do lớn nhất thế giới về dân số và GDP.

Ngày nay, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua việc tham gia và ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới. Quá trình hội nhập quốc tế không chỉ giới hạn ở lĩnh vực kinh tế mà còn mở sang các lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, đóng góp vào sự phát triển toàn diện của đất nước.

Thành tựu và thách thức từ hội nhập quốc tế

Kể từ khi bắt đầu tiến trình Đổi mới, Việt Nam chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Tăng trưởng GDP hàng năm của Việt Nam trong những năm qua trung bình khoảng 6% đến 7%. Đặc biệt, trong giai đoạn từ đầu những năm 2000 đến trước khi xảy ra đại dịch Covid-19, Việt Nam thường xuyên đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, thậm chí vượt qua 7% trong một số năm, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực.

Cùng với đó là sự gia tăng đáng kể của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Từ khởi đầu khiêm tốn, lũy kế đến năm 2023, Việt Nam đã thu hút được 39.140 dự án FDI với tổng số vốn đạt 468,917 tỷ USD. Những con số này nhấn mạnh về sự xuất hiện của Việt Nam như một điểm đến quan trọng của các nhà đầu tư quốc tế, được hỗ trợ bởi vị trí địa lý chiến lược, lực lượng lao động trẻ có kỹ năng, cùng chính sách thân thiện với doanh nghiệp.

Thị trường xuất khẩu được mở rộng, phát triển vượt bậc, giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng trưởng đáng kể. Trong giai đoạn từ năm 1992 đến 2022, tăng trưởng xuất khẩu đạt trung bình 17,96%/năm. Việt Nam trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hàng đầu thế giới. Hàng hóa của Việt Nam đã có mặt tại gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 33 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD và 6 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 10 tỷ USD.

Trong giai đoạn 2010 - 2020, tỷ lệ nghèo giảm từ 16,8% xuống còn trên 5%. Năm 2023, tỷ lệ nghèo đa chiều của Việt Nam là 5,71%. Những tiến bộ trong lĩnh vực giáo dục và y tế góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, ngày càng khẳng định vị thế trên trường quốc tế, tham gia tích cực vào các hoạt động chung của khu vực và thế giới. Vị thế, uy tín và tiếng nói của Việt Nam được khẳng định nổi bật tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng. Những thành tựu này đã tạo nên bước phát triển mới về chất trong đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Hội nhập quốc tế mang lại cho Việt Nam nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội và vị thế quốc tế, nhưng cũng đặt ra một số thách thức như: cạnh tranh quốc tế gay gắt trong thu hút đầu tư, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ; chênh lệch giàu nghèo có xu hướng gia tăng; những tác động xã hội không mong muốn như sự du nhập văn hóa ngoại lai, các vấn đề về lối sống, môi trường...

Để tận dụng tối đa lợi ích và hạn chế những thách thức của hội nhập quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Trước hết, cần tập trung nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh, nhất là năng lực cạnh tranh về nhân lực. Cần đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục và đào tạo để nâng cao kỹ năng và năng lực lao động, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, quản lý và ngoại ngữ.

Thứ hai, cần nhanh chóng cải thiện hạ tầng, đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc và năng lượng để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh.

Thứ ba, cần đẩy mạnh cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, giảm bớt gánh nặng thủ tục hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ tư, tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Tận dụng công nghệ thông tin và công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa để nâng cao hiệu quả sản xuất và quản lý.

Thứ năm, tăng cường quan hệ đối tác với các quốc gia và khu vực, tham gia tích cực vào các diễn đàn kinh tế quốc tế, nâng cao hiệu quả thực thi các FTA để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài.

Thứ sáu, tích cực thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, hướng đến phát triển bền vững. Đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn, giữa phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội.

Bằng cách tập trung vào các yếu tố trên, Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội từ quá trình hội nhập, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.

Chuyên đề