(BĐT) - 45 năm sau ngày thống nhất đất nước, Việt Nam lại trải qua những ngày “toàn quốc kháng chiến” trong một cuộc chiến đặc biệt. Những chiến thắng đầu tiên, những “chiến thuật” phù hợp, tinh thần quyết tâm cao đang tạo cơ sở cho niềm tin vào một thắng lợi “kép” trên cả hai mặt trận chống dịch và phát triển kinh tế.
Với sự chuẩn bị tốt, sẽ có những cơ hội mở ra với Việt Nam, đòi hỏi phải nhanh chóng nắm bắt. Ảnh: Lê Tiên

Với sự chuẩn bị tốt, sẽ có những cơ hội mở ra với Việt Nam, đòi hỏi phải nhanh chóng nắm bắt. Ảnh: Lê Tiên

Những chiến thắng đầu tiên trong cuộc chiến đặc biệt

“Toàn thể dân tộc Việt Nam ta hãy cùng chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức để chiến thắng đại dịch Covid-19… Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh”. Lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng như một lời hiệu triệu “toàn quốc kháng chiến” trong một cuộc chiến đặc biệt, chưa từng có tiền lệ chống lại kẻ thù vô hình - đại dịch Covid-19.

Khó có thể biết cuộc chiến này sẽ kéo dài đến lúc nào, nhưng tinh thần đoàn kết, chiến thuật “thần tốc, thần tốc hơn nữa… tranh thủ từng giờ, từng phút” góp phần làm nên Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 một lần nữa đang giúp Việt Nam có những chiến thắng đầu tiên trên mặt trận chống dịch. Tâm thế chủ động, sự nhanh nhạy, quyết liệt, sớm triển khai các giải pháp phòng chống dịch giúp Việt Nam kiểm soát được tình hình dịch bệnh, bảo đảm an toàn tính mạng người dân - mục tiêu ưu tiên hàng đầu được Đảng, Nhà nước, Chính phủ xác định trong cuộc chiến này.

Đó là mục tiêu hàng đầu, nhưng không phải duy nhất. Chính phủ đang huy động tổng lực để thực hiện nhiệm vụ kép, phấn đấu đạt được thắng lợi kép: vừa ưu tiên phòng chống dịch, vừa duy trì sản xuất, kinh doanh, giữ vững ổn định xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020.

Giống như mặt trận chống dịch, các giải pháp, “chiến thuật” của Việt Nam trên mặt trận kinh tế qua quý đầu tiên của năm 2020 đã có những kết quả đáng khích lệ. GDP quý I tăng 3,82% so với cùng kỳ năm 2019, tuy thấp nhất từ năm 2011 tới nay, nhưng là con số cao nhất trong số các nước có số liệu đến thời điểm cuối tháng 3. Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, Chính phủ Việt Nam đã chủ động kiểm soát mọi tình hình, nền kinh tế tạm thời đứng vững trước các cú sốc bên ngoài. Còn Chủ tịch EuroCham Nicolas Audie đánh giá: "Nếu không có những hành động nhanh chóng và quyết đoán của Chính phủ, chắc chắn tình hình sẽ trở nên tồi tệ". 

Con đường còn gian nan

Chưa khi nào, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đối diện với một tương lai bất định và không thể dự báo như hiện nay. Nhiều chuyên gia kinh tế có chung nhận định, tuy Việt Nam có khả năng vượt qua đại dịch sớm hơn các quốc gia khác do các biện pháp quyết liệt đã được thực hiện từ khi dịch mới bắt đầu xuất hiện, nhưng do hội nhập sâu với quốc tế và khu vực, xu thế phát triển của Việt Nam không thể tách khỏi thực trạng của nền kinh tế thế giới. Việt Nam vẫn sẽ cần nhiều thời gian để khôi phục lại hoạt động của cả nền kinh tế. Đại dịch nếu được kiểm soát ở Việt Nam cũng không thể làm cho nền kinh tế phục hồi ngay nếu nó vẫn tiếp diễn ở các quốc gia khác. Điều này đòi hỏi phải xây dựng nhiều kịch bản chính sách kinh tế khác nhau từ ngắn đến dài hạn nhằm ứng phó với tình hình dịch ở cả Việt Nam và các quốc gia khác trên thế giới. 

Nhiều kịch bản tăng trưởng cho năm cuối của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 đã được đưa ra. Tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương diễn ra ngày 10/4, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) cho biết, dịch càng kéo dài, ảnh hưởng đến nền kinh tế càng nghiêm trọng hơn, mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 6,8% là rất thách thức và khó đạt được. Trường hợp dịch được khống chế trong quý II, tăng trưởng GDP dự báo đạt khoảng 5,32% và trường hợp dịch kéo dài hết đến quý III thì tăng trưởng GDP dự báo là 5,05%. Một số chỉ tiêu vĩ mô có nguy cơ bị tác động mạnh như chỉ số giá tiêu dùng bình quân (CPI) cả năm có thể tăng trên 4% nếu không có các giải pháp điều hành giá quyết liệt; thu ngân sách nhà nước có thể giảm 145 nghìn tỷ đồng; xuất nhập khẩu, đầu tư của khu vực tư nhân và FDI giảm mạnh do “cầu” của thế giới giảm mạnh, các nhà đầu tư có xu hướng thận trọng trong quyết định đầu tư và chuyển hướng đầu tư an toàn hơn.

Đánh giá cao kết quả tích cực trong quý I, nhưng WB cũng hạ dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm nay xuống còn 4,9%. Dự báo mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) còn thấp hơn với mức tăng 2,7%. Với giả định Việt Nam có khả năng kiểm soát được dịch Covid-19, Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) dự báo, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt mức 4,2% trong kịch bản khả quan nhất, 1,5% trong kịch bản trung tính và có thể -1% trong kịch bản xấu nhất.

Hai đầu tàu kinh tế của cả nước cũng là hai địa phương chịu thiệt hại nặng do dịch bệnh. TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng quý I năm nay xuống thấp nhất trong nhiều năm, chỉ đạt 0,42% với 5/9 ngành dịch vụ trọng yếu của Thành phố tăng trưởng âm. Hà Nội khả quan hơn, nhưng con số tăng trưởng cũng chỉ là 3,72%, thấp hơn bình quân của cả nước và bằng hơn một nửa so với mức tăng trưởng cùng kỳ năm ngoái.

Cùng với đó, là những bài toán về bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động… 

Có cơ sở cho thắng lợi kép          

Để vượt qua con đường đầy gian nan trước mắt, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc xác định khó khăn gấp đôi thì cố gắng gấp ba, chuẩn bị tốt nhất tâm thế, năng lượng cho “lò xo” kinh tế có thể bật căng sau dịch.

Cam kết với Thủ tướng, lãnh đạo hai đầu tàu kinh tế - Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thể hiện quyết tâm rất cao sẵn sàng phục hồi mạnh sau khi dịch được kiểm soát. Bí thư Thành ủy Hà Nội Vương Đình Huệ khẳng định, Hà Nội quyết tâm phục hồi kinh tế “đi lên theo hình chữ V chứ không phải theo hình chữ U”, phấn đấu tăng trưởng ít nhất là gấp 1,3 lần GDP cả nước. Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong thì cho biết, Thành phố sẽ chủ động xây dựng các kịch bản, giải pháp để đạt được mục tiêu tăng trưởng từ 8,3 - 8,5% như kế hoạch đã thông qua.

Lãnh đạo các địa phương đánh giá rất cao sự điều hành của Chính phủ trên cả hai mặt trận, có niềm tin rất lớn vào các giải pháp mà Chính phủ đã, đang và sẽ ban hành có thể giúp cuộc sống nhân dân và nền kinh tế vượt qua khó khăn.

Chính phủ đã huy động tổng lực, với các gói hỗ trợ trên nhiều lĩnh vực: Gói hỗ trợ về tiền tệ (được nâng lên khoảng 300.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ về tài khóa (khoảng 180.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ an sinh xã hội (khoảng 62.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ giá điện (khoảng 12.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ giá viễn thông (khoảng 15.000 tỷ đồng). Ngoài ra, số vốn đầu tư công gần 700.000 tỷ đồng, tương đương 30 tỷ USD, quyết tâm giải ngân hết trong năm nay.

Đi đôi với chống dịch, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết, Chính phủ sẽ thực hiện các giải pháp đồng bộ, đặc biệt trong bối cảnh đặc biệt để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, chia sẻ với doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn; thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư toàn xã hội, đặc biệt là đầu tư công để hỗ trợ tăng trưởng…

Đi kèm với chính sách, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng khẳng định, bất luận tình huống nào Ngân hàng Nhà nước cũng điều hành các ngân hàng thương mại đảm bảo cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế, kể cả trong giai đoạn phòng chống dịch và phục hồi sau dịch với mức lãi suất cho vay thấp hơn.

Và yếu tố then chốt, theo Thống đốc Lê Minh Hưng, là nền tảng vĩ mô ổn định được Chính phủ dày công củng cố, duy trì trong những năm qua đã giúp tăng sức chống chịu của nền kinh tế, giảm tác động tiêu cực đến đời sống của người dân, tạo dư địa, điều kiện cho nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ hơn sau dịch.

Với sự chuẩn bị tốt, sẽ có những cơ hội mở ra với Việt Nam.

Ông Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam nhận định, ngoài tác động tiêu cực, Covid-19 cũng mang lại cơ hội mới cho Việt Nam. Đó chính là thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế số thông qua phát triển chính phủ điện tử, học tập trực tuyến, thanh toán trực tuyến… VEPR cũng cho rằng, đại dịch là thời điểm để các chủ thể của nền kinh tế nhận ra vai trò của kinh tế số và sự cần thiết của các nền tảng số. Đây có thể là động lực để tạo nên bước ngoặt lớn cho Việt Nam hoặc sẽ là niềm nuối tiếc lớn nếu chúng ta bỏ lỡ. Nhiều ý kiến khác kỳ vọng, đây sẽ là cơ hội cho Việt Nam để đẩy nhanh việc cải cách, cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, nâng cao sức cạnh tranh…

Để nắm bắt cơ hội, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng, việc chuẩn bị trước các kịch bản và dự kiến sớm các giải pháp vực dậy nền kinh tế sau khi dịch kết thúc là cần thiết, để không bị đi sau trong một cuộc chơi mới, sân chơi mới sắp diễn ra.

Những quyết tâm biến “nguy” thành “cơ”, để nền kinh tế tăng tốc sau dịch không chỉ bù đắp những tổn thất rất to lớn vừa qua, mà theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, còn giúp đạt được những tầm nhìn, những quyết tâm về một Việt Nam độc lập, tự cường và thịnh vượng.

Thần tốc chống dịch, tăng tốc phát triển kinh tế ảnh 1
“Mô hình kinh tế thế giới thay đổi sau Covid-19”

Ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á tại Việt Nam

Tác động của Covid-19 đến kinh tế Việt Nam gần như trên tất cả các lĩnh vực của cung và cầu. Hầu hết tất cả các lĩnh vực sẽ sụt giảm tăng trưởng. Một trong các biện pháp quan trọng hiện nay là duy trì mức độ đầu tư xã hội. Từ nay đến hết quý II/2020, hai mục tiêu ngay trước mắt, trong ngắn hạn của Việt Nam là phải dập được dịch Covid-19 và không để cuộc khủng hoảng y tế lan sang và tác động đến cơ cấu kinh tế, hoặc làm trầm trọng thêm những vấn đề cơ cấu đã có. Đây là hai mục tiêu liên quan đến nhau chặt chẽ, vì nếu dịch bệnh càng kéo dài, khả năng khủng hoảng y tế biến thành suy thoái, khủng hoảng kinh tế càng lớn.

Để đạt hai mục tiêu này, chính sách tài khóa cần được ưu tiên. Một trong các biện pháp quan trọng đó là thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, kể cả vốn ODA. Mặc dù đã có cải thiện trong quý I, nhưng giải ngân vẫn có thể được đẩy mạnh thêm. Chỉ riêng vốn ODA của 6 nhà tài trợ phát triển: WB, ADB, AfD (Pháp), Kexim (Hàn Quốc), JICA (Nhật Bản) và KfW (Đức) đã là gần 20 tỷ USD, phần lớn là vốn ưu đãi.

 Về trung hạn và dài hạn, xét về cung, động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn là công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Xét về cầu, sự gia tăng của tầng lớp trung lưu, nhu cầu nội địa sẽ là động lực quan trọng bảo đảm tăng trưởng trong trung và dài hạn.

 Tuy nhiên, có lẽ yếu tố cũng cần để ý trong trung và dài hạn là mô hình kinh tế thế giới sau Covid-19. Vai trò của nhà nước, đặc biệt trong các dịch vụ công như y tế có thể sẽ có sự thay đổi mạnh. Chuỗi cung ứng toàn cầu cũng có thể sẽ bị cơ cấu lại, đơn cử như xu hướng co cụm sản xuất về trung tâm, để bảo đảm an toàn khi có những biến cố tương tự như Covid-19 xảy ra. Và thay đổi này sẽ có thể ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại và đầu tư.

Thần tốc chống dịch, tăng tốc phát triển kinh tế ảnh 2
“Việt Nam đứng trước cơ hội khi kiểm soát thành công Covid-19”

Ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

Tác động của Covid-19 với kinh tế toàn cầu là chưa từng có. Với cách xử lý của Việt Nam trước đại dịch Covid-19 thời gian qua, chúng ta đang có một cơ hội lớn.

Hiện cấu trúc của nền kinh tế thế giới đang chứng minh sự phụ thuộc quá lớn vào một quốc gia trong những thời điểm, địa điểm nhất định (ví dụ như Trung Quốc), nếu gặp một biến cố thiên tai, dịch bệnh thì sẽ dẫn tới sự ảnh hưởng, tác động nghiêm trọng lên toàn cầu. Chính vì thế, nhiều quốc gia đang có xu hướng dịch chuyển các cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang các quốc gia khác, trong đó Việt Nam là một điểm đến rất sáng. Bởi cách ứng phó với Covid-19 đã nâng cao uy tín của Việt Nam, cách xử lý những bất thường của xã hội, nền kinh tế trước thiên tai, dịch họa cũng được đánh giá cao. Rõ ràng Covid-19 là liều thuốc thử cho thể chế kinh tế nói chung và làm bật lên những ưu điểm của thể chế chính trị ở Việt Nam.

Covid-19 đã cho thế giới và Việt Nam cách nhìn nhận khác, có nhiều giá trị phải xem xét lại như chuỗi cung ứng, sản xuất theo chuỗi vì nếu quá phụ thuộc vào chuỗi sản xuất thì khi đứt 1 mắt xích, ảnh hưởng sẽ rất nghiêm trọng. Phải chăng cần làm chuỗi song song hoặc liên kết mạng lưới chứ không chỉ dừng lại ở một chuỗi sản xuất.

Bên cạnh chú trọng xuất nhập khẩu, cũng phải quay lại với những giá trị nội địa, tìm nguồn cung ứng, vật liệu, thị trường tiêu thụ ở trong nước. Hơn 10 năm qua, Việt Nam đã hội nhập rất mạnh mẽ, và trong quá trình hội nhập vô tình đã để lại nhiều khoảng trống phía sau. Và đây có thể là thời gian để chúng ta dừng lại suy ngẫm trước những bước tiến mạnh mẽ, để tự thấy có gì phải điều chỉnh không?

Thần tốc chống dịch, tăng tốc phát triển kinh tế ảnh 3
“Tin tưởng các gói hỗ trợ của Chính phủ sẽ thành công”

Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nếu kiểm soát tốt và sớm dập được dịch Covid-19, kịch bản phục hồi kinh tế của Việt Nam cần được xây dựng với những giải pháp cho ngắn hạn (trước mắt là giúp vực dậy những DN yếu thế, đang dần kiệt quệ để tránh khỏi đổ vỡ) và những giải pháp cho trung hạn.

Sau khi dịch bệnh qua đi, có những nhóm DN thực sự yếu. Đơn cử như DN nhỏ và siêu nhỏ với vốn mỏng, thị trường sụt giảm, trong khi DN vẫn phải chi trả chi phí cố định (nhà, lương)… thì chỉ cần kinh doanh dịch chuyển, gặp biến cố 6 tháng sẽ dẫn tới việc ngừng hoạt động, thậm chí giải thể, phá sản. Đối với nhóm DN này cần có hỗ trợ nhanh để tránh đổ vỡ.

Với các gói hỗ trợ của Chính phủ liên quan tới Covid-19, khâu tổ chức thực hiện cần phải đảm bảo logic và khớp với định hướng chính sách đưa ra.

Theo tôi, có nhiều yếu tố khiến cho các gói chính sách hỗ trợ này sẽ thành công. Thứ nhất là sự tập trung cao độ, ủng hộ, đồng lòng của các cấp chính quyền, người dân, DN. Thứ hai, hiện tượng thờ ơ, quan liêu, thất thoát sẽ được hạn chế dưới sức ép tuyên truyền mạnh mẽ liên quan tới các hoạt động chống dịch từ các cơ quan truyền thông. Thứ ba là nguồn lực đã có, mục tiêu, chọn đối tượng đã rõ ràng và được phân rõ trách nhiệm, thực thi. Ngoài ra, với các quy trình rút gọn, việc hỗ trợ sẽ được đẩy nhanh, giúp nguồn lực hỗ trợ sớm đến đúng đối tượng.

Tuy nhiên, cần khẳng định là hỗ trợ phải được thực thi bằng chính sách, vẫn cần có những quy định cụ thể, điều kiện, lĩnh vực, lượng tính, thời gian… Quan trọng nhất là thực hiện cần công khai, minh bạch, hỗ trợ ai, bao nhiêu, công khai trên hệ thống thông tin đại chúng để cùng biết, kiểm tra, giám sát.