Thách thức nâng cao năng suất lao động

(BĐT) - Việt Nam có lực lượng lao động đông đảo, song khi đề cập đến chất lượng nguồn lao động thì vẫn còn nhiều đều đáng quan ngại, một yếu tố kéo năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam xuống rất thấp. 
Việt Nam đang thiếu hụt trầm trọng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Ảnh: Lê Tiên
Việt Nam đang thiếu hụt trầm trọng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Ảnh: Lê Tiên

Yêu cầu của hội nhập cùng sự phát triển nhanh chóng của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang đặt ra cho Việt Nam những yêu cầu và thách thức mới trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Thiếu hụt trầm trọng lao động có chuyên môn kỹ thuật

TS. Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho rằng, cải thiện và thúc đẩy tăng NSLĐ là một trong những vấn đề cốt lõi đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Tăng năng suất lao động chính là yếu tố quyết định tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp (DN) và của nền kinh tế. NSLĐ cao đồng nghĩa với phát triển nhanh, bền vững, chống tụt hậu so với các nước trong khu vực.

Ông Lâm cho biết, NSLĐ của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm. Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN. Tính chung giai đoạn 10 năm  (2007 - 2016), NSLĐ theo sức mua tương đương năm 2011 (PPP 2011) của Việt Nam tăng trung bình 4,2%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân của Singapore (1,5%/năm), Malaysia (1,9%/năm)...  Tuy nhiên, NSLĐ của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực. Tính theo PPP 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7% của Singapore; 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của Indonesia  và bằng 56,7% NSLĐ của Philippines. Đáng chú ý là chênh lệch về NSLĐ giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng. Điều này cho thấy khoảng cách và thách thức mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong việc bắt kịp mức NSLĐ của các nước.

Một trong những nguyên nhân khiến NSLĐ của Việt Nam còn thấp được ông Lâm nhấn mạnh là do chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động còn thấp. Đến cuối năm 2017, chỉ có 21,5% lao động cả nước đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ, trong đó khu vực nông thôn rất thấp, chỉ khoảng 13%. Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo còn bất hợp lý, thiếu hụt nhân lực là kỹ sư thực hành, công nhân kỹ thuật bậc cao. Kết nối cung cầu trên thị trường lao động còn nhiều bất cập.

Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia chỉ rõ, Việt Nam đang thiếu hụt trầm trọng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt là lao động bậc trung, chỉ đáp ứng được 20 - 30% nhu cầu lao động giai đoạn 2010 - 2015. Tỷ lệ thiếu hụt trình độ chuyên môn kỹ thuật chung của nền kinh tế trong giai đoạn này tăng từ 28% lên 33%...

Chuyên gia lao động, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội Nguyễn Lan Hương cho biết, nhiều kết quả khảo sát của DN cho thấy, DN phản ánh học sinh, sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu của DN.

Đầu tháng 4/2018, Ngân hàng Phát triển châu Á công bố khảo sát về lao động đã chỉ rõ thách thức mà các DN FDI tại Việt Nam gặp phải trong tìm được ứng cử viên cho các vị trí việc làm đòi hỏi tay nghề cao. Đó là khoảng 70 - 80% ứng viên cho các vị trí quản lý và kỹ thuật không đáp ứng yêu cầu. 

Đổi mới giáo dục và đào tạo nghề

Các nghiên cứu kinh tế chỉ ra rằng, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giáo dục đào tạo là mối quan hệ tương thuộc. Thông qua giáo dục và đào tạo làm tăng NSLĐ giúp tăng trưởng kinh tế, và ngược lại, tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho phát triển giáo dục và đào tạo. Bởi thế, ông Lâm cho rằng, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới giáo dục, đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế để tăng năng suất là vấn đề rất cấp bách hiện nay.

Trong khi đó, theo PGS.TS Nguyễn Thanh Hà thuộc Đại học Kinh tế quốc dân, hệ thống giáo dục cao đẳng và đại học hiện nay của Việt Nam còn mang tính truyền thống, khép kín, nặng nề và thiếu hiệu quả. Thực tế chung là giáo dục cao đẳng, đại học hiện vẫn là các cơ sở đào tạo cung cấp cho thị trường những “sản phẩm mình có” mà không phải là “sản phẩm xã hội cần”, nguyên nhân là do thiếu sự liên kết giữa nhà trường và DN. Hệ lụy của vấn đề này là tình trạng thất nghiệp tràn lan của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Trong khi đó, công tác giáo dục và đào tạo hiện nay đang đứng trước nhiều yêu cầu và thách thức mới từ quá trình chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng cũng như sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng của các công nghệ hiện đại từ cuộc CMCN 4.0. Thêm vào đó, tác động của các FTA đang tạo nên những thay đổi mạnh mẽ từ phía cầu của thị trường buộc chúng ta phải có những thay đổi, điều chỉnh từ phía cung. Rõ ràng, bài toán về phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, trong bối cảnh hiện nay đã có thêm những tiêu chí, điều kiện ràng buộc mới hết sức khó khăn, đòi hỏi sự đổi mới toàn diện công tác đào tạo.

Để vấn đề thiếu hụt lao động có tay nghề sẽ không trở thành rào cản, nút thắt cản trở tương lai phát triển của đất nước, đưa nhân lực trở thành hạt nhân thúc đẩy tăng trưởng với chất lượng cao hơn, PGS.TS Nguyễn Thanh Hà đề xuất phải cải cách, đổi mới thể chế trong giáo dục cao đẳng và đại học nhằm đáp ứng yêu cầu mới. Cải cách này cần theo hướng: Đổi mới về tư duy trong quản lý và hoạch định chính sách giáo dục cao đẳng và đại học; tăng cường kết nối giữa 3 chủ thể (cơ quan quản lý nhà nước, các nhà quản lý cơ sở giáo dục; chủ sử dụng lao động/DN)… Vị chuyên gia này nhấn mạnh, bây giờ không phải thời buổi các trường đào tạo vô tư đưa ra các chương trình đào tạo theo suy nghĩ, mong muốn của mình, mà phải dựa trên nhu cầu của thị trường.

Về vai trò của DN trong hành trình này, bà Hà Thu Thanh, Chủ tịch HĐTV Deloitte Việt Nam nhấn mạnh, đã đến lúc DN phải coi chi phí đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật cho người lao động tại DN là một hình thức đầu tư hơn là một chi phí mất đi nhằm tạo ra nội lực của DN, từ đó giúp DN vừa nâng cao năng suất, lại không tuột mất cơ hội phát triển.

Trung Hiếu