Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất trí trình Quốc hội xem xét phê chuẩn EVFTA và EVIPA tại Kỳ họp thứ 9

(BĐT) - Trong phiên làm việc chiều 28/4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến việc trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA).

 
Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất trí trình Quốc hội xem xét phê chuẩn EVFTA và EVIPA tại Kỳ họp thứ 9

Bộ KH&ĐT đã chủ trì tổ chức nghiên cứu đánh giá tác động của hai hiệp định 

Thừa Ủy quyền của Chính phủ trình bày Báo cáo thuyết minh về Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng cho biết, Hiệp định EVIPA sẽ thay thế 21 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương hiện hành giữa Việt Nam và các nước thành viên EU. Hiệp định có 4 chương, 92 điều và 13 phụ lục, gồm những nội dung chủ yếu sau:

Chương 1 quy định về mục tiêu và các khái niệm sử dụng trong Hiệp định. Theo đó, mục tiêu của Hiệp định là nhằm tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa các bên phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững, thu hút đầu tư một cách có ý thức để bảo vệ môi trường, người lao động theo các tiêu chuẩn và thỏa thuận quốc tế mà các bên đã tham gia, đồng thời nâng cao mức sống, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế, tạo cơ hội việc làm mới và cải thiện phúc lợi chung.

Chương 2 quy định về phạm vi điều chỉnh của Hiệp định và cam kết của mỗi bên về bảo hộ đầu tư đối với nhà đầu tư đã có hoạt động đầu tư hợp pháp trên lãnh thổ của bên kia. Chương này không quy định quyền tiếp cận thị trường của nhà đầu tư trong giai đoạn chấp thuận đầu tư vì đã được điều chỉnh tại Hiệp định EVFTA.

Chương 3 quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp trong quá trình thực thi Hiệp định.

Chương 4 quy định về cơ chế tổ chức thực thi Hiệp định. Theo đó, các bên sẽ thành lập Ủy ban thực thi Hiệp định nhằm bảo đảm thực hiện và áp dụng Hiệp định này phù hợp với mục tiêu đã đặt ra. Chương này cũng quy định về các biện pháp ngoại lệ mà mỗi bên có thể áp dụng mà không bị coi là vi phạm Hiệp định.

Về đánh giá tác động của Hiệp định EVIPA, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, Chính phủ đã giao Bộ KH&ĐT chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức nghiên cứu đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA đối với Việt Nam.

Về kiến nghị áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần Hiệp định, để bảo đảm thi hành Hiệp định EVIPA, Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ, ngành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ở cấp Trung ương để kiến nghị sửa đổi, bổ sung văn bản cần thiết.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, trừ những quy định về cơ chế công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài có liên quan đến EU và các thành viên EU, thì việc thực thi cam kết của Việt Nam theo Hiệp định này không đòi hỏi phải ban hành hay sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật. 

Trên cơ sở các nội dung trên, Chính phủ kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội ban hành Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định EVIPA gồm những nội dung sau: Phê chuẩn và áp dụng trực tiếp toàn bộ nội dung Hiệp định, trừ các Khoản 2,3,4 và 5, Điều 3.57 Chương 3. Cho phép công nhận và thi hành phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp theo Hiệp định EVIPA tại một nghị quyết riêng do Quốc hội ban hành, gồm những nội dung: Trong thời gian 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết EVIPA với bị đơn là Việt Nam theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết EVIPA với bị đơn là EU hoặc nước thành viên EU như bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án Việt Nam. Sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, tòa án có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết EVIPA như bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án Việt Nam. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định này. Luật Thi hành án dân sự áp dụng đối với việc thi hành phán quyết EVIPA đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Cũng tại phiên họp, thừa Ủy quyền của Chính phủ trình bày Báo cáo thuyết minh về EVFTA, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh cho biết, Hiệp định gồm 17 chương, 8 phụ lục, 2 nghị định thư, 2 biên bản ghi nhớ và 4 tuyên bố chung điều chỉnh nhiều vấn đề bao gồm: Thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp kiểm dịch và vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý - thể chế. Danh mục chi tiết các chương, phụ lục, nghị định thư, biên bản ghi nhớ và tuyên bố chung của EVFTA được liệt kê trong Phụ lục I của Báo cáo.

Chuẩn bị kỹ lưỡng để tận dụng cơ hội, hạn chế tối đa tác động tiêu cực

Thảo luận tại Phiên họp, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội bày tỏ sự nhất trí cao với các nội dung tại Tờ trình, Báo cáo thuyết minh và Báo cáo thẩm tra.

Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu và một số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, Chính phủ cần dự báo xu hướng phát triển kinh tế quốc tế; đề ra được các giải pháp xử lý đảm bảo an ninh kinh tế, an ninh chính trị và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc áp dụng tự động hóa trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 cũng sẽ có ảnh hưởng đến nhóm ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày. Do đó, cần đánh giá cụ thể hơn cả tác động tích cực, tiêu cực đến các ngành và nhìn nhận lại năng lực của Việt Nam để có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, phát huy thế mạnh để tận dụng các cơ hội và hạn chế tối đa các tác động tiêu cực từ Hiệp định, có chính sách hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng từ Hiệp định.

Về nội dung bảo lưu, chấp nhận hoặc phản đối bảo lưu của bên nước ngoài, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành việc không có kiến nghị bảo lưu bất kỳ nội dung nào của Hiệp định EVFTA. Về việc áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần Hiệp định EVIPA, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng nhất trí như Tờ trình, đó là trừ các quy định tại Khoản 2,3,4 và 5 Điều 3.57 Chương 3, các nội dung còn lại của Hiệp định đã đủ rõ, đủ chi tiết, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, do đó áp dụng trực tiếp các quy định này.

Kết luận nội dung làm việc, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng nêu rõ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành cao với Tờ trình, Báo cáo thuyết minh và Báo cáo thẩm tra của các cơ quan chuyên môn; nhất trí trình Quốc hội xem xét, quyết định phê chuẩn toàn văn 2 hiệp định trong Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát các luật có liên quan để hoàn thiện thêm một bước khi các hiệp định có hiệu lực; đề nghị có nghị quyết riêng của Quốc hội về điều chỉnh mối quan hệ mới này để bảo vệ quyền và lợi ích của Việt Nam, Nghị quyết này sẽ được trình tại Phiên họp tháng 5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Theo Báo cáo thuyết minh của Chính phủ do Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng trình bày, để thi hành Hiệp định EVIPA, đồng thời phát huy tối đa những lợi ích mang lại từ hiệp định này, Việt Nam đang đứng trước một số khó khăn, thách thức. Thực tế cho thấy, thể chế, chính sách, cơ chế quản lý của Việt Nam còn một số mặt hạn chế; hệ thống kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế nói chung và nhu cầu của các nhà đầu tư EU nói riêng. Năng lực và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, khả năng hấp thụ công nghệ còn hạn chế, thường gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tế này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát huy tác động lan tỏa về năng suất, công nghệ khi thu hút đầu tư từ EU.

Những thách thức nêu trên đòi hỏi Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp phải thực hiện những giải pháp đồng bộ, toàn diện để có thể phát huy tối đa những lợi ích từ Hiệp định EVIPA và EVFTA. Cụ thể là: Nhóm giải pháp về tăng cường công tác xây dựng pháp luật, thể chế để thực thi Hiệp định; Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và tính sẵn sàng đối với việc tận dụng các cơ hội từ Hiệp định; Nhóm giải pháp kiểm soát, phòng ngừa tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư. 

 

MT