|
| Theo các quy hoạch và kế hoạch của Bộ Xây dựng, giai đoạn 2026 - 2030 tổng nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông là khoảng 3 triệu tỷ đồng. Ảnh: Lê Tiên |
Theo tính toán của Bộ Xây dựng, giai đoạn 2026-2030, tổng nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông khoảng 3 triệu tỷ đồng, con số này vượt xa khả năng ngân sách và tín dụng truyền thống…
Từ thực tế làm dự án giao thông…
Chia sẻ tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ phát triển thị trường chứng khoán năm 2026 do Bộ Tài chính tổ chức ngày 20/3/2026, ông Ngọ Trường Nam cho biết, các dự án hạ tầng giao thông đòi hỏi quy mô vốn khổng lồ và chu kỳ đầu tư dài hạn (15-25 năm). Trước đây, ngoài ngân sách nhà nước thì tín dụng ngân hàng là nguồn vốn chính cho các dự án PPP giao thông. Tuy nhiên, nguồn tín dụng ngân hàng chịu các giới hạn về hạn mức, kỳ hạn vốn và các quan điểm quản trị rủi ro, nên không thể đáp ứng nhu cầu.
Tại Đèo Cả, để đầu tư nhiều dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn, bên cạnh vốn chủ sở hữu và tín dụng ngân hàng, Công ty chủ động đa dạng hóa các nguồn vốn với mô hình PPP++, trong đó có việc huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán. “Việc mở rộng kênh gọi vốn giúp Đèo Cả triển khai các dự án cao tốc lớn như Cam Lâm - Vĩnh Hảo, Hữu Nghị - Chi Lăng, Đồng Đăng - Trà Lĩnh và nhiều dự án hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia khác”, ông Nam nói.
Tính đến nay HHV đảm nhận việc quản lý, khai thác gần 500 km đường cao tốc, quốc lộ; hơn 30 km hầm đường bộ, tham gia đầu tư phát triển các dự án PPP có tổng mức đầu tư gần 60.000 tỷ đồng trong gần 200.000 tỷ đồng tổng mức đầu tư của các dự án PPP Tập đoàn Đèo Cả tham gia, bao gồm nhiều dự án trọng điểm quốc gia, đóng góp lớn cho sự phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương.
Tuy nhiên, huy động vốn để đầu tư các dự án hạ tầng là câu chuyện khó. Chu kỳ đầu tư và hoàn vốn của các dự án hạ tầng giao thông thường dài hơn các ngành khác, nhiều dự án kéo dài từ 15 đến 25 năm. Doanh thu, thời gian hoàn vốn phụ thuộc vào các yếu tố vĩ mô như quy hoạch, mạng lưới giao thông kết nối, mức độ phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương. Bên cạnh đó, một số dự án PPP/BOT giao thông đã bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi cơ chế, chính sách hoặc điều chỉnh quy hoạch, dẫn đến ảnh hưởng đến lưu lượng, doanh thu, phương án tài chính ban đầu… Đây là những rào cản, không chỉ với nhà đầu tư cá nhân, mà với cả các nhà đầu tư tài chính chuyên nghiệp, họ luôn yêu cầu cao về tính ổn định của chính sách và các cơ chế tài chính hỗ trợ.
Giải pháp nào tạo vốn cho đầu tư hạ tầng?
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng ta đã đặt ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2026-2030 trên 10%/năm. Để đạt được mục tiêu này, Nghị quyết chỉ ra 03 đột phá chiến lược, đó là hoàn thiện thể chế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông.
Theo các quy hoạch và kế hoạch của Bộ Xây dựng, giai đoạn 2026 - 2030 tổng nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông là khoảng 3 triệu tỷ đồng. Trong đó đường bộ khoảng 1 triệu tỷ đồng, với nhiệm vụ trọng tâm là 5.000 km đường cao tốc. Đường sắt khoảng 1,7 triệu tỷ đồng, với nhiệm vụ trọng tâm là triển khai tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế như Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và mạng lưới đường sắt đô thị tại các thành phố Hà Nội, TP.HCM… Bên cạnh đó là hạ tầng hàng không, hàng hải… Thực tế này đòi hỏi phải có giải pháp đột phá để đủ vốn cho phát triển hạ tầng.
Từ thực tế nhiều quốc gia như Úc, Ấn Độ đã phát triển các quỹ đầu tư hạ tầng quy mô lớn, huy động hàng tỷ USD từ thị trường vốn cho các dự án giao thông, Tổng giám đốc HHV đề xuất cần xây dựng khung pháp lý cho các công cụ huy động vốn dài hạn như trái phiếu dự án, trái phiếu công trình hoặc các mô hình quỹ đầu tư hạ tầng. Cùng với đó, cần điều chỉnh, xây dựng chính sách đầu tư PPP theo hướng: "công trình công - quản trị và vận hành tư" để giảm sự can thiệp hành chính nhà nước trong quá trình thực hiện dự án, phát huy sự linh hoạt, hiệu quả của quản trị tư. Đặc biệt, cần cụ thể hóa cơ chế chia sẻ rủi ro, nhất là các dự án có thời gian hoàn vốn dài, qua đó tăng khả năng thu hút từ thị trường vốn và các nhà đầu tư tổ chức.
Với các tồn tại của một số dự án PPP/BOT trong lĩnh vực giao thông, cần có giải pháp xử lý dứt điểm trên nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân; đồng thời đảm bảo tính ổn định, nhất quán của khung pháp lý đối với các dự án hạ tầng đã và đang triển khai. “Niềm tin của nhà đầu tư không chỉ nằm ở lợi nhuận kỳ vọng, mà còn là sự ổn định và nhất quán của chính sách trong suốt vòng đời dự án”, ông nói.
Cũng trong mong muốn giải bài toán vốn lớn cho đầu tư hạ tầng, ông Trần Lê Minh, Tổng giám đốc VIS Rating chia sẻ, ở nhiều thị trường, trái phiếu hạ tầng được phát hành rất thành công. Chẳng hạn tại Ấn Độ, các doanh nghiệp được sự hậu thuẫn của Chính phủ như National Highways Authority of India (NHAI), Power Finance Corporation (PFC) và Rural Electrification Corporation (RREC) đã phát hành nhiều trái phiếu hạ tầng bằng đồng nội tệ và bằng USD để xây dựng các dự án hạ tầng giao thông và năng lượng. Sự thành công của các đợt phát hành đến từ sự hỗ trợ chính sách như giảm và miễn thuế khi đầu tư vào trái phiếu, dòng tiền từ dự án bảo đảm khả năng thanh toán ổn định và bảo lãnh một phần của Chính phủ Ấn Độ giúp giảm rủi ro cho nhà đầu tư.
Dự án Đường cao tốc thu phí Delhi - Mumbai (Ấn Độ) do Cơ quan Đường cao tốc quốc gia Ấn Độ (NHAI) đầu tư với tổng mức đầu tư trên 12 tỷ USD là một ví dụ cụ thể. Trong giai đoạn nghiên cứu và xây dựng ban đầu của Dự án, khoản vay hợp vốn từ các ngân hàng quốc doanh và tư nhân Ấn Độ. Trong giai đoạn tiếp theo, khi đã hoàn thành trên 70% khối lượng xây lắp, NHAI thực hiện phát hành trái phiếu hạ tầng kỳ hạn lên tới 30 năm với lãi suất thấp hơn khoản vay ngân hàng cùng kỳ hạn để tài trợ cho Dự án.
Theo ông Minh, Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi mô hình trên nếu có được khuôn khổ pháp lý và sự hỗ trợ phù hợp. Ông đề xuất xây dựng một nghị định riêng về phát hành trái phiếu hạ tầng, thể hiện rõ các điểm khác biệt để tạo nên sự hấp dẫn, nhất là đối với nhà đầu tư nước ngoài. Đây là điểm quan trọng để phát hành thành công trái phiếu hạ tầng khi các nhà đầu tư tổ chức trong nước (ngành bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí) có nhu cầu nhưng chưa đủ tiềm lực để hấp thụ toàn bộ lượng trái phiếu dài hạn cần phát hành.
Chia sẻ tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết, nhu cầu vốn cho giai đoạn 2026 - 2030 ước tính tối thiểu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20%, tương đương hơn 7,7 triệu tỷ đồng, còn lại khoảng 80% - tương đương trên 30 triệu tỷ đồng - phải huy động từ khu vực xã hội. Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ không còn nhiều, thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán, sẽ giữ vai trò then chốt trong việc cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Đây là nhiệm vụ rất lớn, nhiều thách thức nhưng cũng mở ra cơ hội đáng kể cho các nhà đầu tư, quỹ đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp.