|
| Hai vùng mới là Bắc Trung Bộ cùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được thiết kế lại trên cơ sở vùng miền Trung cũ. Ảnh: Song Lê |
Thay đổi nội hàm phát triển các vùng động lực
Theo dự kiến, QHTTQG điều chỉnh định hướng phát triển không gian kinh tế - xã hội của 6 vùng gồm: Trung du và miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ; Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, điều chỉnh, mở rộng phạm vi và bổ sung một số nội hàm trong định hướng phát triển của 4 vùng động lực quốc gia là Vùng động lực phía Bắc, Vùng động lực phía Nam, Vùng động lực miền Trung, Vùng động lực Đồng bằng sông Cửu Long ra khu vực phụ cận, là các địa bàn có mạng lưới kết cấu hạ tầng đã và đang được đầu tư, bố trí các khu, cụm công nghiệp, các đô thị, khu đô thị... Bổ sung Vùng động lực Bắc Trung Bộ bao gồm các địa bàn dọc theo đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Quốc lộ 1 và đường ven biển, gắn với các đô thị trung tâm tỉnh, đô thị du lịch ven biển và các khu kinh tế ven biển là các trung tâm công nghiệp của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Vùng động lực Bắc Trung Bộ được định hướng trở thành một trung tâm về công nghiệp lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, công nghiệp ô tô và phụ trợ của cả nước; phát triển nhanh các ngành công nghiệp mới như điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp công nghệ số, các ngành công nghệ cao. Cùng với đó, vùng Bắc Trung Bộ tiếp tục phát triển các trung tâm du lịch biển gắn với các đô thị du lịch ven biển. Phát triển các cảng biển và dịch vụ cảng biển, dịch vụ logistics.
Cơ quan soạn thảo cho biết, đây là điểm mới quan trọng nhất trong việc điều chỉnh QHTTQG. Quy hoạch vẫn giữ 6 vùng nhưng nội hàm của từng vùng có sự thay đổi. Đặc biệt, 2 vùng mới là Bắc Trung Bộ cùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được thiết kế lại trên cơ sở vùng miền Trung cũ. Việc này đòi hỏi Bộ Tài chính phải lập và phê duyệt quy hoạch vùng mới cho hai vùng này.
Quy hoạch cũng điều chỉnh một số tỉnh thuộc khu vực động lực. Điển hình là Vĩnh Phúc, sau khi sáp nhập với Hòa Bình và Phú Thọ (thuộc miền núi phía Bắc), được coi là tỉnh miền núi phía Bắc. Khu vực động lực phía Bắc sẽ được điều chỉnh để có sự giao thoa, đưa các tỉnh giáp ranh, có động lực như Bắc Ninh và Vĩnh Phúc vào vùng động lực này. Đối với khu vực miền Trung, mục tiêu mới là phát triển hành lang kinh tế Đông Tây trong nội tỉnh, kết nối các trung tâm hành chính cũ. Bản điều chỉnh QHTTQG nhấn mạnh vào động lực tăng trưởng mới là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Liên quan đến hạ tầng giao thông, QHTTQG điều chỉnh, bổ sung có định hướng đẩy nhanh tiến trình đầu tư một số tuyến cao tốc, đường ven biển, quốc lộ quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển các hành lang kinh tế, nhu cầu kết nối vùng, liên vùng, mở ra không gian phát triển mới. Xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP.HCM, đường sắt kết nối Cảng hàng không quốc tế Long Thành... Đầu tư hoàn chỉnh các cảng biển cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện và Cái Mép - Thị Vải; xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (TP.HCM), cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng), Nam Đồ Sơn (Hải Phòng), Hòn Khoai (Cà Mau), Vân Phong (Khánh Hòa), Trần Đề (Cần Thơ)...
Về hạ tầng năng lượng, QHTTQG điều chỉnh, bổ sung định hướng phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành kinh tế mới và yêu cầu chuyển đổi sang sử dụng năng lượng sạch. Theo đó, ưu tiên khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch. Triển khai các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2. Phát triển điện hạt nhân theo các quy mô linh hoạt, các nhà máy điện hạt nhân lắp ráp modul nhỏ. Hình thành Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia tích hợp khí, khí hóa lỏng, điện, lọc, hóa dầu, năng lượng tái tạo tại các địa phương có lợi thế.
Phấn đấu tăng trưởng cao và bền vững
Tại Dự thảo Quy hoạch quốc gia 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, mục tiêu phát triển đến năm 2030 được điều chỉnh, bổ sung một số nội hàm như: phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; mô hình tổ chức không gian phát triển quốc gia hiệu quả, thống nhất, bền vững, các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; có mạng lưới kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại; bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế...
Một số chỉ tiêu chủ yếu điều chỉnh theo hướng tăng so với QHTTQG được thông qua tại Hội nghị Trung ương 12. Cụ thể, phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đạt trên 8,0%/năm thời kỳ 2021 - 2030; trong đó giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 8.500 USD. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt trên 8,5%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,78.
Trong tầm nhìn đến năm 2050, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2031 - 2050 khoảng 7,0 - 7,5%/năm. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2050 đạt khoảng 38.000 USD. Chỉ số phát triển con người đạt trên 0,85.