|
| Khi số lượng dự án giảm nhưng quy mô vốn tăng, áp lực dồn lên từng dự án sẽ lớn hơn. Ảnh: Lê Tiên |
Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, Chính phủ đề xuất huy động 8,22 triệu tỷ đồng cho đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, tăng 5,35 triệu tỷ đồng so với giai đoạn 2021 - 2025. Với nguyên tắc bố trí vốn không dàn trải, tập trung vào các dự án chuyển đổi trạng thái, xoay chuyển tình thế, yêu cầu đặt ra là hiệu quả thực chất của từng dự án, gói thầu - yếu tố quyết định chất lượng của cả chu kỳ phát triển.
Chuyển dịch tư duy đầu tư công
5 năm qua, Việt Nam đã tập trung nguồn lực triển khai những nhiệm vụ, dự án lớn, quan trọng, có tính kết nối liên vùng, tác động lan tỏa, tiêu biểu là hoàn thành trên 3.000 km đường bộ cao tốc, 1.700 km đường ven biển. Hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn như tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Cảng hàng không quốc tế Long Thành hay các tuyến vành đai đô thị tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM đã tạo chuyển động rõ nét về kết nối vùng, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, thu hút đầu tư và mở rộng không gian phát triển.
Ông Nguyễn Văn Quang, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính), chuyên gia tham gia tư vấn lập quy hoạch cho nhiều địa phương tại Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, hiệu quả đầu tư công trong phát triển hạ tầng giao thông thời gian qua rất rõ nét, nhưng cần nhìn nhận đầy đủ cả về mặt lan tỏa và yêu cầu nâng cấp chất lượng triển khai.
Bên cạnh những điểm sáng, thực tiễn triển khai đầu tư công bộc lộ nhiều hạn chế. Theo đánh giá của Chính phủ, đó là chất lượng công tác chuẩn bị dự án còn hạn chế, điều chỉnh nhiều lần, kéo dài; khó khăn trong giải phóng mặt bằng, thiếu nguyên vật liệu, giá cả tăng cao; tổ chức thực hiện một số nơi còn lúng túng, hiệu quả chưa cao; giải ngân còn chậm, nhất là vốn ODA, chương trình mục tiêu quốc gia; phân bổ nguồn ngân sách địa phương còn dàn trải, chưa xác định cụ thể trách nhiệm tham gia đối ứng; hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) thấp hơn giai đoạn trước, nhưng vẫn ở mức 6,4; huy động vốn ngoài nhà nước chưa đạt được kết quả như kỳ vọng.
Theo ý kiến chuyên gia, các hạn chế trên không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án mà còn tác động đến các kế hoạch dài hạn. Những hạn chế không còn là hiện tượng cá biệt, mà đã trở thành “nút thắt” mang tính hệ thống. Chính trong bối cảnh đó, yêu cầu chấm dứt đầu tư dàn trải được đặt ra như một đòi hỏi cấp thiết. Để nâng cao hiệu quả đầu tư công trong giai đoạn tới, cần đặc biệt chú trọng tính đồng bộ giữa các dự án, cũng như chất lượng triển khai ở từng dự án, từng gói thầu. Nếu các mắt xích này chưa được kiểm soát tốt, hiệu quả lan tỏa của các dự án sẽ bị hạn chế, thậm chí làm giảm hiệu quả sử dụng vốn trong dài hạn.
5 năm vừa qua, ngân sách trung ương đã cải cách mạnh mẽ danh mục dự án, bước đầu khắc phục tình trạng dàn trải, phân tán. Theo đó, tổng số dự án sử dụng nguồn vốn này còn khoảng 4.652 dự án, giảm 60% so với giai đoạn 5 năm trước đó (khoảng 12.000 dự án). Dù vậy, việc chuyển dịch tư duy điều hành đầu tư công theo hướng giảm dự án, tăng quy mô và đầu tư trọng điểm cho dự án có tính chất xoay chuyển tình thế, có sức lan tỏa rộng cần tiếp tục được thúc đẩy. Đây không đơn thuần là bài toán kỹ thuật, mà phản ánh sự chuyển dịch trong tư duy điều hành, từ “đầu tư nhiều” sang “đầu tư có chọn lọc”; từ “phân bổ vốn” sang “tối ưu hiệu quả”.
Một trong những điểm đáng chú ý trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 là định hướng giảm khoảng 30% số lượng dự án so với giai đoạn trước, đồng thời tập trung nguồn lực cho các công trình trọng điểm, liên vùng, có khả năng tạo sức lan tỏa. Dự kiến, tổng quy mô đầu tư công lên tới 8,22 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương khoảng 3,8 triệu tỷ đồng và ngân sách địa phương khoảng 4,42 triệu tỷ đồng. Quy mô chưa từng có này cho thấy quyết tâm dồn lực cho hạ tầng, đồng thời đặt ra áp lực rất lớn về hiệu quả sử dụng vốn.
Phát biểu trên nghị trường Quốc hội mới đây, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu, tất cả các dự án đầu tư công phải thực hiện việc đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội. Vừa qua, đầu tư công đã quyết liệt để tránh dàn trải và giảm số lượng dự án. 5 năm tới cũng sẽ tiếp tục giảm số lượng dự án (tối thiểu 30% số dự án) để tập trung cho dự án trọng điểm, quan trọng và có tính lan tỏa.
Một chỉ tiêu đáng chú ý trong giai đoạn 2026 - 2030 là hệ số ICOR phải giảm về mức 4,5 - 4,8, thấp hơn đáng kể so với con số 6,4 của giai đoạn trước. Theo ý kiến một số chuyên gia, mục tiêu này cho thấy chuyển biến trong tư duy điều hành đầu tư công theo hướng chú trọng hiệu quả. ICOR thấp cho thấy chi phí vốn thấp hơn để tạo ra cùng một đơn vị tăng trưởng, qua đó phản ánh quyết tâm nâng cao hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực.
“Trong bối cảnh tổng vốn đầu tư công lên tới hàng triệu tỷ đồng, việc kiểm soát ICOR không chỉ là mục tiêu vĩ mô, mà trở thành yêu cầu xuyên suốt trong toàn bộ quá trình triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn.
Ở cấp độ vi mô, mỗi gói thầu chính là “đơn vị cấu thành” của hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Do đó, một dự án có thể được phê duyệt với mục tiêu đúng, quy mô hợp lý, nhưng nếu trong quá trình triển khai, thiết kế kỹ thuật chưa sát thực tế, tiêu chí lựa chọn nhà thầu chưa phù hợp, năng lực nhà thầu không đáp ứng yêu cầu, cơ chế hợp đồng chưa phân bổ hợp lý rủi ro, vướng mắc giải phóng mặt bằng…, thì chi phí đầu tư sẽ tăng, tiến độ kéo dài, kéo theo hiệu quả suy giảm. Thực tế, nhiều dự án hạ tầng lớn thời gian qua gặp vướng mắc không phải ở chủ trương, mà ở khâu tổ chức thực hiện. Những vấn đề như thiếu vật liệu, chậm giải phóng mặt bằng, hay sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các bên liên quan đều có thể làm “đội vốn” và kéo dài thời gian hoàn thành. Đây chính là những yếu tố trực tiếp làm gia tăng chi phí và gián tiếp làm tăng ICOR của toàn bộ dự án cũng như nền kinh tế.
Để làm đúng và làm hiệu quả hơn
Trong giai đoạn tới, nhiều dự án có quy mô đặc biệt lớn như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến cao tốc liên vùng, hệ thống cảng biển, sân bay… sẽ được triển khai. Đây là những công trình có tổng mức đầu tư rất lớn, thời gian thực hiện kéo dài và yêu cầu kỹ thuật cao. Bất kỳ sai lệch nào ở cấp độ gói thầu cũng có thể nhân lên thành rủi ro ở cấp dự án. Việc kiểm soát tiến độ, chi phí, chất lượng thi công không còn là yêu cầu riêng lẻ, mà trở thành yếu tố quyết định hiệu quả của cả chương trình đầu tư công.
Đồng thời, khi số lượng dự án giảm nhưng quy mô vốn tăng, áp lực dồn lên từng dự án sẽ lớn hơn. Mỗi gói thầu không đơn thuần là một cấu phần kỹ thuật, mà là “mắt xích” quyết định sự thành bại của cả chuỗi đầu tư. Yêu cầu đặt ra không chỉ là “làm nhanh hơn”, mà là “làm đúng và làm hiệu quả hơn”. Hiệu quả đầu tư công không còn là câu chuyện của riêng cơ quan quản lý hay chủ đầu tư, mà là trách nhiệm của toàn hệ thống - từ khâu lập kế hoạch, thẩm định dự án đến lựa chọn nhà thầu và tổ chức thi công.
Nhằm đảm bảo mục tiêu đầu tư công 5 năm tới, Chính phủ đưa ra nhóm 4 giải pháp. Trước tiên là lựa chọn dự án đầu tư công trên cơ sở đánh giá, hạch toán đầy đủ hiệu quả kinh tế, tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội, đóng góp vào an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Hai là, nâng cao chất lượng thể chế quản lý đầu tư công. Ba là, các bộ, địa phương, các đơn vị sử dụng vốn phải phát huy trách nhiệm cao nhất trong tổ chức thực thi kế hoạch qua từng khâu, từng bước để đẩy nhanh tiến độ. Tăng cường phân cấp, phân quyền, đi đôi với phối hợp, giám sát, kiểm tra, đánh giá. Bốn là, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa đầu tư công với đầu tư xã hội. Hợp tác, vay vốn nước ngoài, vốn trái phiếu dài hạn, vốn của nhân dân, doanh nghiệp, kết hợp với ngân sách nhà nước để triển khai các dự án lớn.