|
| Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của nước ta liên tục tăng trong giai đoạn 2021 - 2025, từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% vào năm 2025. Ảnh: Tuấn Anh |
Trong bối cảnh này, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, GS. TS. Tô Trung Thành, Đại học Kinh tế quốc dân nhận định, không còn cách nào khác là chuyển mạnh sang kinh tế số, mở dư địa phát triển mới.
Vì sao ông cho rằng, kinh tế số là chìa khóa để Việt Nam thực hiện khát vọng tăng trưởng 2 con số?
Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy, vào năm 2030, trí tuệ nhân tạo (AI) có tiềm năng đóng góp 26% tăng trưởng GDP tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Một nghiên cứu đã tính toán, đến năm 2030, AI đóng góp khoảng 0,72 điểm phần trăm vào GDP của Việt Nam (kịch bản cơ sở), kịch bản tăng tốc (1) là 1,29 điểm phần trăm GDP và tăng tốc (2) là 2,05 điểm phần trăm GDP. Xa hơn, vào năm 2040, ước tính, AI sẽ đóng góp từ 120 đến 130 tỷ USD cho nền kinh tế Việt Nam.
IMF, OECD, WB đều dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026 chững lại hoặc giảm nhẹ so với năm 2025. Với một nền kinh tế mở như Việt Nam, trong bối cảnh này, không thể trông chờ tăng trưởng kinh tế dựa nhiều vào bên ngoài (xuất khẩu). Các động lực truyền thống cũ như tín dụng, thị trường nội địa, nhân lực giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên không có nhiều dư địa. Động lực đến từ đầu tư công và chính sách tài khóa trong thời gian đầu góp phần rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng không thể kéo dài mãi. Vì vậy, muốn tăng trưởng 2 con số, nhất là phải phát triển bền vững, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không còn cách gì khác là tập trung phát triển kinh tế số.
Không phải bây giờ mà từ năm 2019, Việt Nam đã quan tâm phát triển kinh tế số. Hiện kinh tế số đóng vai trò như thế nào trong nền kinh tế Việt Nam?
Năm 2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 52-NQ/TW xác định phát triển kinh tế số, xã hội số và chuyển đổi số quốc gia là một nhiệm vụ trọng tâm, mang tính chiến lược. Từ đó đến nay, nhiều văn kiện của Đảng, nghị quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành đều khẳng định vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những động lực chủ yếu của tăng trưởng.
Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của nước ta liên tục tăng trong giai đoạn 2021 - 2025, từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% vào năm 2025, trung bình giai đoạn này ước đạt khoảng 13,2% GDP. Năm 2025, kinh tế số tiếp tục đóng góp quan trọng trong tăng trưởng với tỷ trọng giá trị tăng thêm ước đạt trên 14% GDP, tương đương với khoảng 72,1 tỷ USD, gấp 1,64 lần năm 2020, gấp 1,5 lần năm 2021. Các lĩnh vực dịch vụ số phát triển nhanh với quy mô hàng chục tỷ USD, riêng các mảng như nội dung số, du lịch trực tuyến hay vận tải số đều tăng trưởng khoảng 16 - 20%/năm.
Kể từ khi đại dịch Covid-19 xảy ra, thương mại điện tử, dịch vụ trực tuyến phát triển vô cùng mạnh mẽ. Năm 2025, doanh thu 4 sàn thương mại điện tử lớn nhất Việt Nam (Shopee, TikTok Shop, Lazada và Tiki) đạt khoảng 430.000 tỷ đồng, tăng 34,75% so với năm 2024. Đặc biệt, xuất khẩu sản phẩm công nghệ số đem về cho doanh nghiệp 172 tỷ USD năm 2025, cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực công nghệ trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Dù có những bước tiến rõ nét, nhưng nhiều ý kiến cho rằng, kinh tế số Việt Nam chưa đạt mục tiêu và dư địa để phát triển còn rất lớn. Xin ông chia sẻ quan điểm về vấn đề này?
Cách tính đóng góp của kinh tế số vào GDP trên thế giới chưa có sự thống nhất, các định chế tài chính quốc tế cũng chưa có cách tính giá trị gia tăng của kinh tế số giống nhau. Việt Nam (Cục Thống kê) tính toán theo thông lệ chung, khuyến cáo của các định chế tài chính quốc tế và đưa ra con số đóng góp của kinh tế số vào GDP năm 2025 khoảng 14%, tức là chưa đạt được mục tiêu tối thiểu 20% được đặt ra tại Nghị quyết 52-NQ/TW.
Bên cạnh đó, mức độ lan tỏa của kinh tế số còn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển mới. Dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao chưa tương xứng với tiềm năng; tỷ trọng vào công nghệ cao trên tổng vốn FDI rất thấp, phần lớn vẫn tập trung vào các khâu gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng thấp. Các trung tâm công nghiệp như Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng, Phú Thọ... có tỷ trọng kinh tế số/GRDP cao nhờ vào nguồn vốn FDI sản xuất phần cứng, điện tử và công nghệ cao (kinh tế số lõi) nhưng chủ yếu là gia công, kiểm thử, đóng gói.
Vai trò của dữ liệu, kinh tế dữ liệu được quan tâm nhiều hơn, nhưng việc chuyển hóa thành giá trị gia tăng cho nền kinh tế còn hạn chế. Điều đáng mừng là hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã chủ động học hỏi, ứng dụng chuyển đổi số và các nền tảng số để duy trì và đổi mới phương thức tiếp cận thị trường trong và ngoài nước, tăng khả năng hoạt động liên tục, hiệu quả và có sức chống chịu tốt hơn.
Một số tổ chức quốc tế công bố nhận định thận trọng về tăng trưởng của Việt Nam trong khi nước ta quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Theo ông, nên tiếp tục trông chờ vào các động lực truyền thống, hay nên dựa nhiều hơn vào các động lực mới trong bối cảnh hiện nay?
Như tôi đã chia sẻ, động lực đến từ đầu tư công và chính sách tài khóa trong thời gian đầu góp phần rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng chỉ hữu ích trong ngắn hạn. Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt mục tiêu, vào năm 2030, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50%; quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%...
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, theo tôi, kinh tế số cần được nhìn nhận không đơn thuần là quá trình số hóa các hoạt động hiện hữu, mà là một chuyển đổi mang tính cấu trúc, trong đó công nghệ số trở thành nhân tố sản xuất cốt lõi, quyết định năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Mô hình phát triển cần dựa trên 3 trụ cột chính. Thứ nhất, kinh tế số lõi (ICT) phải chuyển dịch từ gia công sang làm chủ công nghệ. Trọng tâm không chỉ là duy trì tỷ trọng cao mà là nâng cấp chất lượng giá trị gia tăng, thông qua chiến lược “Make in Vietnam”, phát triển công nghệ lõi như bán dẫn, thiết bị 5G/6G và các nền tảng số quốc gia. Việc xây dựng hạ tầng số dùng chung (cloud, AI, định danh số) sẽ tạo nền tảng cho doanh nghiệp nội địa nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm phụ thuộc bên ngoài.
Thứ hai, kinh tế số ngành cần được số hóa sâu vào chuỗi giá trị. Các ngành tài chính - ngân hàng, bán lẻ, logistics và nông nghiệp cần chuyển từ ứng dụng công nghệ bề mặt sang tái cấu trúc mô hình vận hành dựa trên dữ liệu và AI. Trong đó, tài chính số và fintech đóng vai trò dẫn dắt phân bổ nguồn lực hiệu quả; bán lẻ và logistics nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng; nông nghiệp công nghệ cao góp phần cải thiện năng suất và giá trị xuất khẩu.
Thứ ba, quản trị số phải trở thành nền tảng thể chế cho kinh tế số. Chuyển đổi từ chính quyền điện tử sang chính quyền số dựa trên dữ liệu giúp giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Dữ liệu cần được coi là tài nguyên chiến lược, với hệ thống kết nối liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương.