Thực thi hiệu quả cải cách để định hình tăng trưởng

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Nhận định về triển vọng tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn tới, bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào cho rằng, thách thức lớn nhất là triển khai, bảo đảm nguồn tài chính và duy trì lộ trình cải cách đang được thực hiện trên nhiều khía cạnh, quản lý và giảm rủi ro cả trong nước và ngoài nước, đồng thời tăng cường năng lực của khu vực tư nhân trong nước. Nếu hóa giải được những thách thức này, Việt Nam sẽ có bước tiến thực chất hướng tới mục tiêu trở thành nước thu nhập cao.

Việt Nam dự kiến chi khoảng 320 tỷ USD vốn đầu tư công trong giai đoạn 2026 - 2030, chủ yếu cho năng lượng, giao thông và logistics, nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn hạ tầng. Ảnh: Lê Tiên
Việt Nam dự kiến chi khoảng 320 tỷ USD vốn đầu tư công trong giai đoạn 2026 - 2030, chủ yếu cho năng lượng, giao thông và logistics, nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn hạ tầng. Ảnh: Lê Tiên

Ba trọng tâm thực thi để vượt qua rủi ro, tạo nền tảng tăng trưởng

Tại Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam vừa được công bố ngày 15/5/2026, WB dự báo tăng trưởng năm 2026 sẽ chậm lại, phản ánh tác động ngắn hạn của xung đột tại Trung Đông và biến động giá dầu đối với thương mại và hoạt động kinh tế trong nước. Mặc dù rủi ro tiêu cực trong ngắn hạn, nhưng triển vọng trung hạn sẽ cân bằng hơn.

Một trong những điểm tựa cho triển vọng trung hạn là lộ trình cải cách đang được Việt Nam đẩy mạnh. Bà Tehmina Khan, Chuyên gia kinh tế trưởng của WB nhận định, Việt Nam đã bắt đầu một làn sóng cải cách lớn được ví như “Đổi mới 2.0”, hướng tới nâng cao hiệu quả khu vực công và thúc đẩy tăng trưởng, giải phóng tối đa tiềm năng phát triển khu vực tư nhân. Trong trung hạn, việc đẩy mạnh cải cách, hoàn thành các công trình hạ tầng đầu tư công, đưa thị trường vốn phát triển theo chiều sâu và tiếp tục đa dạng hóa các chuỗi cung ứng sẽ có tác động tích cực đến năng suất, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế. Tương tự, nếu cải cách không được thực hiện đồng đều hoặc đầu tư công không hiệu quả sẽ làm tăng rủi ro rơi vào bẫy thu nhập trung bình, khiến tăng trưởng tiềm năng bị chững lại.

Chuyên gia của WB cũng cho rằng, cú sốc dầu mỏ trên toàn cầu tuy là trở ngại, nhưng cũng có thể là chất xúc tác thúc đẩy hơn nữa những cải cách đang được tiến hành. Chính sách hiện nay của Việt Nam đang đi đúng định hướng. Tuy nhiên, vấn đề khó hơn là liệu quá trình thực thi có theo kịp mức độ tham vọng hay không. Ba thách thức liên kết chặt chẽ sẽ có ý nghĩa quyết định, bao gồm: bảo đảm chương trình đầu tư hạ tầng khoảng 320 tỷ USD trong 5 năm tới được thẩm định nghiêm túc và triển khai một cách hiệu quả; hoàn tất quá trình chuyển dịch sang các nguồn tài chính dài hạn hơn và đa dạng hơn ngoài hệ thống ngân hàng; tận dụng FDI theo hướng chất lượng thay vì số lượng, tạo ra liên kết thực chất với khu vực trong nước và thúc đẩy chuyển giao tri thức. Nếu làm tốt, đây là thời điểm mở ra cơ hội thực thụ để tạo nên vòng xoáy tích cực: nâng cao lòng tin của nhà đầu tư, qua đó thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư sẽ đem lại tăng trưởng và tăng trưởng sẽ đem lại khả năng chống chịu.

16.jpg
Việt Nam đang đẩy mạnh lộ trình cải cách nhằm nâng cao hiệu quả khu vực công và thúc đẩy tăng trưởng, giải phóng tối đa tiềm năng của khu vực tư nhân. Ảnh: Trần Vũ

Hiện thực hóa lợi ích từ 320 tỷ USD đầu tư công

Một trong những động lực tăng trưởng quan trọng được WB nhấn mạnh là kế hoạch chi khoảng 320 tỷ USD vốn đầu tư công trong giai đoạn 2026 - 2030, chủ yếu cho năng lượng, giao thông và logistics, nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn hạ tầng. Việt Nam có điều kiện đẩy mạnh đầu tư công dựa trên dư địa tài khóa đã tích lũy trong những năm trước, nhưng việc tăng mạnh đầu tư công phải đi kèm với hiệu quả sử dụng vốn. “Mức chi tiêu cao hơn đó có thực sự chuyển hóa thành năng suất cao hơn không, đó mới là câu hỏi quan trọng”, Chuyên gia kinh tế trưởng của WB nhấn mạnh.

Trả lời cho câu hỏi này, bà Tehmina Khan khuyến nghị, quy mô chưa từng có của kế hoạch đầu tư công đòi hỏi cả khả năng quản trị mạnh và nguồn tài chính đầy đủ để thực hiện nhằm đạt hiệu quả tăng trưởng. Danh mục đầu tư tương đương khoảng 320 tỷ USD là thách thức đối với ngân sách và tín dụng ngân hàng truyền thống.

Trong giai đoạn 2026 - 2030, tổng đầu tư toàn xã hội dự kiến sẽ duy trì bình quân khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công chiếm khoảng 20 - 22% tổng đầu tư. Để hiện thực hóa lợi ích tăng trưởng từ kế hoạch này, Việt Nam cần lựa chọn, chuẩn bị dự án tốt hơn, thẩm định dự án chặt chẽ, quy trình mua sắm hiệu quả hơn, phối hợp hiệu quả giữa các cấp chính quyền và nâng cao năng lực thực thi, quản trị vững mạnh để các khoản đầu tư được triển khai hiệu quả, hiệu suất cao. Đồng thời, phải huy động nguồn tài chính đáng kể từ khu vực tư nhân và thông qua các cơ chế tài chính hỗn hợp giúp giảm thiểu rủi ro cho đầu tư tư nhân, tạo điều kiện để khu vực tư nhân có thể hấp thụ và chia sẻ rủi ro.

Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên Chính sách công, Đại học Fulbright Việt Nam cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của kế hoạch đầu tư công đối với mục tiêu tăng trưởng. Theo ông Thành, dù môi trường toàn cầu khó khăn, với vị thế hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp cận nguồn vốn quốc tế để đáp ứng cho các dự án hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam đang có nhiều chính sách mới để huy động nguồn lực, như việc khuyến khích mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD), tận dụng giá trị tăng thêm từ đất đai nhờ cải thiện hạ tầng. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là nguồn vốn, tiến độ giải ngân mà cần cải thiện hiệu quả đầu tư. Cần có những phân tích chi phí lợi ích, sàng lọc dự án để bảo đảm hiệu quả; có thời gian cho quá trình chuẩn bị dự án, lập dự án; cải thiện minh bạch, cạnh tranh trong lựa chọn nhà thầu, lợi thế của đấu thầu cạnh tranh rất rõ ràng để lựa chọn được những nhà thầu có năng lực.

Liên quan đến khu vực kinh tế tư nhân, ngày 15/5/2026. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 và Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2025 (PCI 2025). Bên cạnh những tín hiệu tích cực, Báo cáo thẳng thắn chỉ ra 4 điểm nghẽn lớn của khu vực tư nhân hiện nay:

1. Thị trường đầu ra: 60,2% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng, tăng mạnh so với mức 45,3% năm 2024 và 41% năm 2022.

2. Tiếp cận vốn: 75,5% doanh nghiệp khẳng định không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm. Tỷ lệ khoản vay yêu cầu thế chấp tại Việt Nam lên tới 93,5%, cao hơn đáng kể so với Malaysia (33,4%), Thái Lan (55,8%) và mức trung bình toàn cầu (68,3%).

3. Minh bạch và dự báo chính sách: Chỉ 6 đến 8% doanh nghiệp có thể thường xuyên dự đoán các thay đổi chính sách; 51,9% phải dựa vào mạng xã hội để nắm bắt dự thảo văn bản.

4. Chi phí không chính thức: 26% doanh nghiệp phản ánh phát sinh chi phí không chính thức khi xin giấy phép kinh doanh, cao gấp gần 3 lần mức trung bình khu vực (9,5%).

Báo cáo khảo sát tại 3.546 doanh nghiệp tư nhân trong nước, 586 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 1.001 hộ kinh doanh trên toàn bộ 34 tỉnh, thành phố. Đây là một trong những cuộc điều tra toàn diện và có chiều sâu nhất về khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam trong nhiều năm qua.

Báo cáo ghi nhận, 81,5% hộ kinh doanh ghi nhận doanh thu sụt giảm trong năm qua, đặt ra yêu cầu cấp thiết về một lộ trình chuyển đổi bền vững. PGS. TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI nhận định, để hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, chính sách cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy đồng hành, từ giảm gánh nặng thủ tục sang kiến tạo năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Kết nối đầu tư