Ứng phó với áp lực lạm phát gia tăng

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Các chính sách hỗ trợ hạ nhiệt giá nhiên liệu đã góp phần kiểm soát đà tăng của lạm phát trong những tháng đầu năm. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cơ bản tháng 4 tăng 4,66% cho thấy áp lực lạm phát có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, với việc tăng lương cơ bản từ 1/7/2026 và nhiều loại hàng hóa, dịch vụ đứng trước áp lực tăng giá đòi hỏi sự phối hợp tích cực giữa chính sách tài khóa, tiền tệ, điều tiết giá cả các mặt hàng để góp phần kiểm soát lạm phát của cả năm.

Áp lực lạm phát có xu hướng gia tăng do chi phí đầu vào cao, đặc biệt là giá xăng dầu, kéo theo sự gia tăng của các nhóm dịch vụ như vận tải, ăn uống và vật liệu xây dựng. Ảnh: Gia Khoa
Áp lực lạm phát có xu hướng gia tăng do chi phí đầu vào cao, đặc biệt là giá xăng dầu, kéo theo sự gia tăng của các nhóm dịch vụ như vận tải, ăn uống và vật liệu xây dựng. Ảnh: Gia Khoa

Dưới áp lực giá xăng dầu tăng cao, chỉ số CPI tháng 4/2026 tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu mức tăng cao nhất kể từ tháng 1/2020. Tại Báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam vừa công bố, Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá các biện pháp trợ giá nhiên liệu đã góp phần hạn chế mức độ tác động tới giá nhiên liệu trong nước và lạm phát nhưng khi bộ đệm dần bị bào mòn, giá xăng đã phải được điều chỉnh đầy đủ theo thị trường.

Theo đó, Chính phủ đã nhanh chóng kích hoạt các biện pháp hỗ trợ giá dầu diesel và xăng trong tháng 3/2026 thông qua sử dụng nguồn lực từ Quỹ Bình ổn giá xăng dầu và khoản tạm ứng ngân sách. Từ đầu tháng 4/2026, Chính phủ lựa chọn chỉ tiếp tục hỗ trợ giá dầu diesel là đầu vào thiết yếu của vận tải hàng hóa, logistics, xây dựng và sản xuất. Vì vậy, lạm phát tiếp tục tăng lên gần 5,5% trong tháng 4, chủ yếu do chi phí vận tải tăng cao. WB dự báo, nếu giá năng lượng toàn cầu duy trì ở mức cao trong cả năm, lạm phát bình quân năm 2026 dự kiến ở mức 4,2%.

Trong khi đó, nhóm nghiên cứu của Công ty Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, áp lực giá đã bắt đầu có dấu hiệu lan tỏa sang các nhóm dịch vụ và hàng hóa khi lạm phát cơ bản trong tháng 4/2026 bật tăng 4,66% so với cùng kỳ, mức cao nhất kể từ cuối năm 2013.

Cũng theo MBS, Việt Nam là quốc gia nhập khẩu năng lượng ròng, việc giá dầu thế giới tăng gây áp lực đáng kể lên giá xăng dầu nội địa, đẩy chi phí vận tải và giá bán của các loại hàng hóa tăng. Ngoài ra, chỉ số CPI còn chịu ảnh hưởng từ các yếu tố khác như: giá vật liệu xây dựng sẽ tăng do nhu cầu triển khai các công trình hạ tầng và bất động sản dân cư tăng mạnh; các tác động của yếu tố tỷ giá và tăng trưởng tín dụng tăng mạnh trong năm 2025 sẽ dần phản ánh vào giá cả hàng hóa của năm 2026. MBS dự báo CPI có thể tiếp tục duy trì quanh mức cao 4,5% - 5% đến cuối quý II/2026 trước khi hạ nhiệt dần về cuối năm và CPI bình quân năm 2026 có thể tăng 4% - 4,3% so với năm trước.

TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV cho rằng, các yếu tố gây áp lực lên lạm phát dự báo sẽ gia tăng do ảnh hưởng trực tiếp từ chi phí đẩy và căng thẳng địa chính trị cộng hưởng với cầu kéo. Theo đó, nguy cơ “nhập khẩu lạm phát” tiềm ẩn trong điều kiện Việt Nam có độ mở kinh tế cao và phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu; nhu cầu nguyên vật liệu lớn cho thúc đẩy đầu tư công, phát triển hạ tầng.

Bên cạnh đó, với tỷ trọng chiếm khoảng 13,2% trong rổ CPI, nếu giá xăng dầu tăng 10% có thể làm CPI Việt Nam tăng thêm trung bình 0,67 điểm %, từ đó tác động lan tỏa đến các nhóm hàng hóa khác trong rổ CPI có thể lên tới 0,8 - 1,8 điểm %. Do đó, với mức độ liên thông cao giữa giá xăng dầu trong nước với giá nguyên nhiên vật liệu thế giới, nếu không kiểm soát tốt, tác động “khuyếch đại” nhiều vòng của tăng giá xăng dầu và hàng hóa nhập khẩu đến các nhóm hàng hóa khác trong rổ CPI có thể gấp 2 - 3 lần tác động trực tiếp, ban đầu. Ở khía cạnh khác, việc điều chỉnh tăng lương tối thiểu theo vùng, lương cơ sở, học phí và chi phí dịch vụ y tế… nếu trùng hợp với các thời điểm cao điểm (lễ Tết, thiên tai, bão lũ) có thể tác động sớm và mạnh đến các mặt hàng thiết yếu trong rổ CPI.

14.jpg
Đóng góp của các nhóm hàng vào tăng trưởng CPI (%)

Ông Lực dự báo 3 kịch bản CPI bình quân năm 2026. Ở kịch bản tích cực, CPI bình quân năm 2026 có thể ở mức 4,2 - 4,7% nếu giá xăng dầu trong nước bình quân tăng 18 - 20% so với năm 2025, giá hàng hóa thiết yếu cơ bản tương đương năm 2025 nhờ các biện pháp điều tiết giá cả hàng hóa, giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý tăng bình quân khoảng 10%, tăng trưởng tín dụng 15 - 16%, tỷ giá và lãi suất ổn định. Ở kịch bản tiêu cực, CPI bình quân cả năm có thể tăng 4,6 - 5% nếu giá xăng dầu trong nước bình quân tăng 20 - 25% so với năm 2025, giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý tăng 10 - 15%, tăng trưởng tín dụng khoảng 16 - 18%, tỷ giá và lãi suất tăng cao hơn mức tăng năm 2025. Ở kịch bản xấu, CPI bình quân có thể lên mức 4,8 - 5,5% nếu giá xăng dầu trong nước bình quân tăng 30 - 40% so với năm 2025, giá một số hàng hóa thiết yếu và tiêu dùng tăng cao, tăng trưởng tín dụng ở mức 18 - 20%, tỷ giá biến động khá mạnh với mức tăng 4 - 5% và mặt bằng lãi suất tăng 0,8 - 1% so với năm 2025.

Ông Lực khuyến nghị cần nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách hơn nữa. Trong đó, chính sách tài khóa là chủ lực, chính sách tiền tệ bổ trợ theo hướng thận trọng, linh hoạt. Cần phối hợp hiệu quả trong việc điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý, điều chỉnh giảm tỷ trọng nhóm hàng hóa thiết yếu trong rổ hàng hóa tính CPI, các mặt hàng do Nhà nước quản lý trong giai đoạn 2026 - 2030 phù hợp với xu thế tiêu dùng hiện đại, tạo điều kiện giảm lạm phát lõi (không quá 3 - 3,5% hoặc thấp hơn trong dài hạn).

TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, lạm phát cơ bản tăng cao cho thấy áp lực giá đã thâm nhập vào lõi của nền kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực dịch vụ và hàng hóa thiết yếu. Bối cảnh năm 2026 đặt nền kinh tế vào một trạng thái khó khăn hơn và dư địa chính sách bị thu hẹp. Theo đó, áp lực từ môi trường quốc tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài của các nền kinh tế lớn làm gia tăng rủi ro tỷ giá và hạn chế khả năng điều hành linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước.

Theo ông Việt, trong bối cảnh đó, việc kiểm soát lạm phát không thể chỉ dựa vào các công cụ truyền thống mà đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện và mang tính cấu trúc. Chính sách tài khóa cần đóng vai trò chủ đạo trong việc giảm chi phí sản xuất và hỗ trợ doanh nghiệp, trong khi cải cách thể chế cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và giảm chi phí tuân thủ.

Kết nối đầu tư