|
| Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa quý I/2026 đạt 249,50 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: Nhã Chi |
Xuất khẩu nghiêng sâu về khối FDI
Theo Cục Thống kê thuộc Bộ Tài chính, quý I/2026, kim ngạch XK hàng hóa đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch XK; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3%, chiếm 80,1%.
Trong quý I/2026 có 20 mặt hàng đạt kim ngạch XK trên 1 tỷ USD, chiếm 86,8% tổng kim ngạch XK, trong đó có 5 mặt hàng XK trên 5 tỷ USD, chiếm 62,4%.
Cơ quan thống kê cho thấy, nhóm nông sản, gạo tiếp tục là mặt hàng XK chủ lực nhờ nhu cầu từ Trung Quốc và các nước châu Á. Thủy sản Việt Nam tiếp tục thu hút sự quan tâm của các thị trường lớn như: Mỹ, EU và Nhật Bản, giúp doanh nghiệp duy trì giá trị XK cao bất chấp chi phí vận tải và logistics tăng.
Tương tự, dệt may vẫn ghi nhận những tín hiệu tích cực bất chấp khó khăn với kim ngạch XK trên 8,8 tỷ USD, tăng 1,9% so với quý I/2025. Ông Thân Đức Việt, Tổng giám đốc Tổng công ty May 10 cho hay, để đạt được kết quả này, các DN đã thay đổi điều kiện giao hàng, chia sẻ rủi ro vận tải với đối tác; đa dạng hóa phương thức vận chuyển, trong đó, có việc tận dụng tuyến đường sắt liên vận sang châu Âu; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và xây dựng thương hiệu riêng để nâng cao giá trị gia tăng.
Về thị trường XK hàng hóa quý I/2026, Hoa Kỳ là thị trường XK lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 39 tỷ USD; tiếp đó là Liên minh châu Âu…
Chia sẻ với phóng viên, một DN hàng đầu trong ngành thép cho biết, trong quý I, hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có XK của các DN thép vẫn tương đối ổn định nhờ nguồn nguyên liệu sản xuất được chuẩn bị từ trước với mức giá cũ. Tuy nhiên, những áp lực về chi phí, thị trường và sự phụ thuộc vào khu vực FDI đang dần bộc lộ, báo hiệu những thách thức lớn hơn trong các quý tiếp theo.
Thách thức gia tăng
Nhiều ý kiến dự báo, từ quý II/2026, tác động bất lợi từ cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông sẽ “ngấm sâu” hơn vào “sức khỏe” của DN trong nước. Tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, giá năng lượng và chi phí vận chuyển hàng hóa tăng cao ảnh hưởng mạnh đến hoạt động sản, kinh doanh của DN. “DN sản xuất sẽ phải nhập khẩu hàng hóa với mức chi phí cao, lợi nhuận sẽ bị bào mòn, bởi quy mô sản xuất càng lớn thì cần nguyên liệu càng nhiều”, đại diện một DN lo lắng.
Đối với ngành thép, sau ngày 21/3/2026, biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm thép cuộn, thép dây có mã HS: 7213.91.90, 7217.10.10, 7217.10.29, 7229.90.99, 9839.10.00 nhập khẩu vào Việt Nam hết hiệu lực. Vì vậy, thép giá rẻ có thể tràn vào thị trường trong nước gây nên khó khăn đối với DN sản xuất trong nước. Thêm vào đó, DN đang phải chịu lãi suất vay rất lớn, đều trên 9%; quý II là quý xấu đối với hoạt động xây dựng… cũng là những thách thức không dễ vượt qua.
Đại diện Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, thời gian qua, nhiều thị trường XK lớn của Việt Nam như Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản… tiếp tục “dựng các rào cản” thị trường thông qua các tiêu chuẩn, quy chuẩn ngày càng cao về môi trường, phát triển bền vững.
Trong bối cảnh hiện nay, nhiều DN duy trì các phương án ngắn hạn, thận trọng theo dõi thị trường và kỳ vọng khi căng thẳng hạ nhiệt, nguồn cung nguyên liệu sẽ ổn định trở lại, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các DN cần nâng cao công tác dự báo thị trường; chủ động nguồn nguyên nhiên liệu; nâng chuẩn quản trị và đầu tư cho chất lượng sản phẩm…
Về phía cơ quan quản lý nhà nước, ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương cho hay, Bộ tiếp tục tập trung triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp. Theo đó, sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ vướng mắc cho DN; bảo đảm cung ứng điện và năng lượng ổn định để không làm gián đoạn sản xuất; đẩy mạnh hướng dẫn DN tận dụng các hiệp định thương mại tự do, triển khai tự chứng nhận và chứng nhận điện tử, đồng thời tăng cường chống gian lận xuất xứ; theo dõi sát diễn biến thương mại quốc tế để chủ động ứng phó với các rủi ro, đồng thời thúc đẩy đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mở rộng sang các thị trường mới, giảm phụ thuộc vào thị trường truyền thống…