|
| Chỉ số PMI sản xuất và IIP của Việt Nam (% so với cùng kỳ) |
Sau quý đầu năm 2026, GDP nước ta đạt mức tăng trưởng tích cực 7,83%, nền kinh tế tiếp tục ghi nhận những điểm sáng trong tháng 4/2026 với chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam 4 tháng đầu năm đạt 18,24 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ, là mức cao nhất kể từ năm 2022 đến nay. Tuy nhiên, bức tranh kinh tế có những điểm chưa khả quan khiến mục tiêu tăng trưởng cả năm trên 10% trở nên rất thách thức, đặc biệt trong bối cảnh giá dầu vẫn neo ở mức cao gây áp lực đáng kể lên rủi ro lạm phát và nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Về sức cầu tiêu dùng, số liệu từ Cục Thống kê cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm tăng 11,1%, song tốc độ tăng thực tế nếu loại trừ yếu tố giá chỉ đạt 6,3%, thấp hơn đáng kể mức tăng 7,5% của cùng kỳ năm 2025 và cách xa mức tăng 9-10% của thời kỳ trước Covid.
Trong khi đó, hoạt động sản xuất cũng được dự báo tiếp tục gặp thách thức trước diễn biến khó lường từ chiến sự tại Iran. Báo cáo của S&P Global cho thấy, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 5 của Việt Nam giảm từ 51,2 điểm về 50,5 điểm. S&P Global đánh giá các nhà sản xuất Việt Nam ghi nhận số lượng đơn đặt hàng mới giảm trong tháng 4 khi áp lực lạm phát đạt mức cao của 15 năm, đặc biệt trong bối cảnh chi phí nhiên liệu và dầu tăng.
Sự tác động từ các biến động của môi trường bên ngoài đang được phản ánh rõ nét vào hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của cộng đồng doanh nghiệp. Đánh giá công tác quý I năm 2026 và phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới của các doanh nghiệp do Bộ Tài chính là cơ quan đại diện chủ sở hữu cho biết, trong quý I, các sản phẩm, dịch vụ chủ yếu của doanh nghiệp được duy trì ổn định, cơ bản bám sát kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, một số lĩnh vực như than, đường sắt, một số sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp còn gặp khó khăn, sản lượng đạt thấp hơn so với cùng kỳ hoặc tiến độ kế hoạch.
Phần lớn doanh nghiệp chịu tác động mạnh từ việc chi phí đầu vào gia tăng, cùng với biến động của lãi suất, tỷ giá, qua đó ảnh hưởng đến việc thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu, duy trì nguồn cung nguyên/nhiên liệu và hiệu quả SXKD. Điển hình, Petrolimex chịu áp lực lớn do biến động giá xăng dầu thế giới và chi phí nhập khẩu tăng cao. Vinachem phải nhập khẩu muối công nghiệp với thuế suất cao do nguồn cung trong nước không đáp ứng. EVN gặp khó khăn trong đảm bảo nguồn nhiên liệu đầu vào cho phát điện trong các thời điểm cao điểm…
“Dự báo quý II và các tháng tiếp theo năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục biến động nhanh, phức tạp và khó lường. Các yếu tố rủi ro, bất định hiện hữu sẽ tạo áp lực lớn đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số”, báo cáo của Cục Phát triển doanh nghiệp nhận định.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước vẫn đặt mục tiêu quyết tâm thực hiện nghiêm mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 theo chỉ tiêu được giao và duy trì mức tăng trưởng cao trong các năm tiếp theo. Các doanh nghiệp đặt mục tiêu đẩy mạnh các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD trên cơ sở tối ưu hóa chi phí, nâng cao năng suất lao động, đổi mới phương thức quản lý và tổ chức sản xuất; chủ động xây dựng và triển khai các kịch bản tăng trưởng phù hợp với diễn biến thị trường.
Với khối doanh nghiệp tư nhân, ông Trần Ngọc Liêm, Giám đốc VCCI Chi nhánh Khu vực TP. HCM (VCCI-HCM) cho rằng, việc hiện thực hóa kế hoạch tăng trưởng từ 10% trở lên cho cả năm là một thách thức rất lớn. Ông Liêm dẫn kết quả Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI 2.0) vừa công bố mới đây cho thấy, việc tìm kiếm nguồn vốn đang đứng thứ 2 trong danh sách 7 khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp. Cụ thể, có tới 52,2% số doanh nghiệp tham gia khảo sát khẳng định việc tiếp cận nguồn tài chính là trở ngại lớn, chỉ xếp sau khó khăn về tìm kiếm khách hàng với tỷ lệ 60,2%.
Theo ông Trần Ngọc Liêm, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp Việt bị hạn chế cũng một phần bởi năng lực quản trị doanh nghiệp. Do đó, việc tăng cường minh bạch hóa bức tranh tài chính là yêu cầu tiên quyết. Đồng thời, việc nâng cao năng lực quản trị không chỉ để đáp ứng các điều kiện vay vốn từ ngân hàng mà còn là nền tảng để doanh nghiệp tham gia vào các thị trường vốn phức tạp hơn. Bên cạnh đó, cần một cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa các bên, đặc biệt là sự đồng hành từ chính quyền địa phương, các hiệp hội, tổ chức tín dụng và tài chính.
Trao đổi với Báo Đấu thầu, TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: “Là một nền kinh tế có độ mở cao, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chịu tác động đáng kể từ xuất khẩu và các dòng dịch chuyển xuyên biên giới. Do đó, chiến sự Trung Đông diễn biến phức tạp và kéo dài là một lực cản đáng kể”.
Để ứng phó với tác động bất lợi đó, theo ông Việt, cần tiếp tục thực hiện các giải pháp linh hoạt, hiệu quả, đặc biệt là sự phối hợp giữa các ngành để giảm đà tăng giá nguyên nhiên vật liệu, hài hòa chính sách tài khóa và tiền tệ để giảm tác động của lạm phát và biến động tỷ giá, hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm và mở rộng thị trường…
Cũng theo ông Việt, Việt Nam nhất định phải tăng cường nội lực, nâng cao năng suất, tăng sức chống chịu của nền kinh tế. Trong đó, cần tiếp tục xây dựng các chính sách hỗ trợ DN, đưa dòng vốn vào phát triển sản xuất kinh doanh cũng như chính sách tài khóa tập trung kích hoạt DN đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ để tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng thế giới.