Xuất hiện “biến tướng” tiêu chí uy tín của nhà thầu

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Pháp luật đấu thầu hiện hành xác lập cơ chế đánh giá uy tín nhà thầu nhằm minh bạch hóa thông tin, sàng lọc nhà thầu yếu kém, nâng cao hiệu quả trong hoạt động đấu thầu. Tuy nhiên, quá trình triển khai trên thực tế đang bộc lộ những bất cập khi một số chủ đầu tư tự mở rộng hoặc diễn giải khái niệm “uy tín của nhà thầu”, đưa vào hồ sơ mời thầu (HSMT) những tiêu chí không được pháp luật quy định.

Việc đưa vào hồ sơ mời thầu những tiêu chí không được pháp luật quy định để đánh giá uy tín có thể hạn chế nhà thầu tham gia đấu thầu. Ảnh minh họa: NC st
Việc đưa vào hồ sơ mời thầu những tiêu chí không được pháp luật quy định để đánh giá uy tín có thể hạn chế nhà thầu tham gia đấu thầu. Ảnh minh họa: NC st

Từ ngày 15/7 đến 3/8/2026, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Hưng Phước (TP. Đồng Nai) tổ chức lựa chọn nhà thầu thực hiện Gói thầu Tư vấn quản lý dự án thuộc Dự án Xây dựng Trường Tiểu học và THCS Hưng Phước (điểm chính). Tại HSMT, nội dung đánh giá về uy tín của nhà thầu quy định: “Nhà thầu có xác nhận hoàn thành tốt công tác quản lý dự án của chủ đầu tư tất cả các hợp đồng tương tự đã nêu”.

Sau khi HSMT được phát hành, một số nhà thầu có văn bản kiến nghị cho rằng, yêu cầu này thiếu cơ sở pháp lý và làm giảm tính cạnh tranh vì pháp luật hiện hành không quy định chủ đầu tư có nghĩa vụ cấp văn bản xác nhận “hoàn thành tốt công tác quản lý dự án” sau khi hợp đồng kết thúc. Pháp luật về đấu thầu cũng không quy định điều kiện nhà thầu phải có xác nhận “hoàn thành tốt công tác quản lý dự án” mới được coi là có uy tín.

Không chỉ vậy, theo nhà thầu, cụm từ “hoàn thành tốt công tác quản lý dự án” là khái niệm mang tính định tính và pháp luật về đấu thầu cũng như pháp luật về xây dựng chưa có tiêu chuẩn hay phương pháp đánh giá thống nhất. Mỗi chủ đầu tư có thể đưa ra cách hiểu và tiêu chí đánh giá khác nhau, dẫn đến nguy cơ việc chấm điểm hoặc đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) thiếu khách quan, không thống nhất.

Cùng thời điểm, Gói thầu số 08 Thi công xây dựng thuộc Dự án Cầu đường gom phía Bắc đại lộ Hùng Vương, nối Khu đô thị Bắc cầu Hạc với Khu đô thị Đông Hải, do Trung tâm Cung ứng dịch vụ công phường Hàm Rồng (tỉnh Thanh Hóa) mời thầu, cũng phát sinh kiến nghị tương tự. Theo HSMT, nhà thầu sẽ bị đánh giá về uy tín thông qua kết quả thực hiện hợp đồng nếu “bị kết luận có vi phạm gian lận trong báo cáo đánh giá HSDT hoặc các quyết định đã được đăng tải công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia”.

Theo phân tích của nhà thầu, hành vi gian lận vốn được điều chỉnh bằng cơ chế xử lý riêng, trong đó có các quyết định cấm tham gia hoạt động đấu thầu do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Nếu sử dụng hành vi này như một tiêu chí đánh giá uy tín sẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo về chế tài và tạo rào cản đối với nhà thầu.

Theo ghi nhận của phóng viên, thời gian qua, tại một số gói thầu xuất hiện nhiều biến tướng trong đánh giá uy tín nhà thầu. Có HSMT yêu cầu nhà thầu phải có hợp đồng tương tự từng đạt giải thưởng về chất lượng công trình xây dựng; có nơi lại quy định nhà thầu không được có bất kỳ hợp đồng thi công xây dựng hoặc cung cấp, lắp đặt thiết bị nào từng bị chủ đầu tư nhắc nhở, phê bình hoặc cảnh cáo bằng văn bản…

Một bất cập khác cũng được nhà thầu phản ánh là việc áp dụng không thống nhất về thời gian đánh giá uy tín. Nghị định số 214/2025/NĐ-CP quy định nhà thầu vi phạm về uy tín chỉ phải thực hiện bảo đảm dự thầu với giá trị gấp 3 lần trong thời hạn 2 năm kể từ lần cuối cùng vi phạm. Tuy nhiên, nhiều HSMT lại sử dụng tiêu chí đạt/không đạt đối với uy tín nhà thầu mà không quy định rõ thời hạn. Điều này dẫn đến tình trạng chỉ cần nhà thầu từng có một vi phạm hoặc "tì vết", dù đã khắc phục và không còn trong thời hạn xử lý, vẫn có nguy cơ bị loại tại bước đánh giá về kỹ thuật.

Theo quy định hiện hành, việc đánh giá uy tín chỉ áp dụng đối với các trường hợp tại Khoản 1, Điều 20 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP, gồm:

a) Nhà thầu không tiến hành hoặc từ chối đối chiếu tài liệu hoặc đã đối chiếu tài liệu nhưng từ chối hoặc không ký biên bản đối chiếu tài liệu trong thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất khi được mời đối chiếu tài liệu;

b) Nhà thầu không tiến hành hoặc từ chối thương thảo hợp đồng (nếu có) hoặc đã tiến hành nhưng từ chối hoặc không ký kết biên bản thương thảo hợp đồng trong thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất khi được mời vào thương thảo hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 45 của Nghị định này;

c) Nhà thầu được lựa chọn trúng thầu nhưng không tiến hành hoặc từ chối tiến hành hoàn thiện hợp đồng, thỏa thuận khung hoặc không ký kết hợp đồng, thỏa thuận khung, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 34 của Nghị định này;

d) Nhà thầu đã ký thỏa thuận khung nhưng không tiến hành hoặc từ chối hoàn thiện hợp đồng hoặc không ký kết hợp đồng.

đ) Nhà thầu rút hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất sau thời điểm đóng thầu và trong thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất;

e) Nhà thầu không nộp bản gốc bảo đảm dự thầu theo yêu cầu của chủ đầu tư hoặc không nộp tiền mặt, séc bảo chi, thư bảo lãnh dự thầu hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm bảo lãnh theo quy định của pháp luật về đấu thầu;

g) Nhà thầu không thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng;

h) Nhà thầu từ chối hoặc không xác nhận về việc chấp thuận được trao hợp đồng trong thời gian tối đa 03 ngày làm việc kể từ ngày chủ đầu tư mời nhà thầu xác nhận về việc chấp thuận được trao hợp đồng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia hoặc đã trúng thầu nhưng không thực hiện theo cam kết trong đơn dự thầu đối với chào giá trực tuyến rút gọn;

i) Nhà thầu không bố trí được nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công chủ yếu để thực hiện gói thầu xây lắp, PC, phần xây lắp trong gói thầu EC theo cam kết trong đơn dự thầu đối với đấu thầu trong nước.

Kết nối đầu tư