|
| Một môi trường thể chế ổn định, minh bạch hơn và đủ an toàn là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp, người dân có thể yên tâm đầu tư, kinh doanh. Ảnh: Tiên Giang |
Phát biểu tại tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68” ngày 13/5, ông Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho biết, sau khi Nghị quyết 68 được ban hành, Chính phủ và Quốc hội đã có nhiều nỗ lực thể chế hóa chính sách, đặc biệt là các chương trình hỗ trợ DN tiếp cận nguồn lực, chương trình thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, đào tạo đội ngũ doanh nhân.
Tuy nhiên, theo ông Minh, vẫn còn nhiều chính sách quan trọng chậm được triển khai, chẳng hạn gói hỗ trợ lãi suất 2% cho DN đầu tư xanh và đổi mới công nghệ đến nay chưa phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó, bức tranh DN hiện nay còn nhiều điểm đáng lưu tâm. Trong 3 tháng đầu năm 2026, trung bình mỗi tháng có khoảng 32.000 DN đăng ký mới và quay trở lại hoạt động, nhưng cũng có khoảng 30.400 DN rút khỏi thị trường. “Như vậy mỗi tháng nền kinh tế chỉ tăng khoảng 1.600 DN, với tốc độ này thì rất khó đạt mục tiêu 2 triệu DN vào năm 2030. Đáng chú ý, theo khảo sát của Ban IV, 7 trong số 10 DN được hỏi vẫn mang tâm lý thận trọng hoặc tiêu cực về triển vọng kinh doanh”, ông Minh cho biết.
Một vấn đề khác được đại diện Ban IV lưu ý là kỷ luật thực thi. “Chính phủ và Thủ tướng đã phát đi nhiều tín hiệu cải cách rất tích cực, nhưng nếu các địa phương thực hiện không tốt thì DN vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Hiện Việt Nam có hơn 6.000 thủ tục hành chính liên quan đến người dân và DN. Theo định hướng cải cách mới, Trung ương sẽ chỉ giữ khoảng 30% thủ tục, phần còn lại phân cấp cho địa phương. Nếu phân cấp mà không đi kèm phân quyền rõ ràng, không xác định trách nhiệm cụ thể và không có kỷ luật thực thi nghiêm thì DN thậm chí có thể phải chịu chi phí tuân thủ cao hơn trước”, ông Minh nhấn mạnh.
Từ thực tiễn trên, ông Bùi Thanh Minh cho rằng Nghị quyết 68 là bước khởi đầu quan trọng, nhưng điều Việt Nam cần hơn là một tư duy cải cách tổng thể, thực chất và bền bỉ.
Cùng quan điểm, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, thành tựu lớn nhất có thể nhìn thấy sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 68 là sự thay đổi mạnh mẽ về tư tưởng và định hướng chính sách. Nghị quyết 68 đã tạo ra sự hứng khởi trong khu vực KTTN, đặc biệt là nhóm DN lớn với hàng loạt dự án quy mô lớn liên tiếp được khởi công trong thời gian gần đây. Trong khi đó, khu vực DN siêu nhỏ, hộ kinh doanh cá thể thể hiện sự lo ngại về các vấn đề liên quan quy định kiểm tra hàng giả, hàng nhái, hoạt động thanh tra, kiểm tra trong quá trình kinh doanh.
TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, thực tế nhiều DN và người dân có xu hướng chuyển dòng tiền khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh để nắm giữ vàng hoặc các tài sản khác, điều này đặt ra vấn đề cần xem xét về niềm tin với môi trường kinh doanh. Theo vị chuyên gia này, cải cách thể chế không thể chỉ dừng ở việc cắt giảm thủ tục hành chính đơn thuần, nếu muốn giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan hành chính thì phải nâng cao vai trò và hiệu quả của hệ thống tư pháp. “Điều cần làm hiện nay không phải là thêm thật nhiều văn bản, mà là một môi trường thể chế ổn định, minh bạch hơn và đủ an toàn để DN có thể yên tâm đầu tư dài hạn”, ông Việt nhấn mạnh.
Cũng từ góc độ pháp lý, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SB Law cho rằng, một trong những nội dung rất quan trọng của Nghị quyết 68 là ưu tiên các biện pháp kinh tế, hành chính và dân sự trước khi áp dụng xử lý hình sự đối với các sai phạm kinh tế. Đây là định hướng rất tiến bộ, tạo cơ hội để DN chủ động khắc phục hậu quả, giảm thiểu rủi ro hình sự hóa hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là các quy định này mới dừng ở tính định hướng, chưa có hướng dẫn cụ thể để áp dụng trên thực tế.
Vị luật sư này dẫn ví dụ trong các vụ án liên quan đến trốn thuế hay lừa đảo, DN thường được khuyến khích khắc phục hậu quả để được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm. Tuy nhiên, hiện chưa có quy định rõ ràng về mức độ khắc phục như thế nào thì được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được giảm nhẹ ở mức nào. “Khắc phục toàn bộ thiệt hại thì có được miễn trách nhiệm hình sự không, khắc phục một nửa thì giảm bao nhiêu, hiện vẫn chưa có hướng dẫn định lượng cụ thể”, ông nói.
TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng, một quy định thực sự tạo ra thay đổi còn giá trị hơn nhiều so với hàng chục văn bản thiếu hiệu quả. Liên quan đến cải cách điều kiện kinh doanh, theo ông Cung, việc cắt giảm một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện chỉ là bước đầu. Để cải cách triệt, cần đồng thời bãi bỏ các điều kiện kinh doanh nằm trong nghị định, thông tư và quy định chuyên ngành.
“Cần rà soát lại toàn bộ danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, phân loại rõ lĩnh vực nào thực sự cần quản lý, lĩnh vực nào có thể chuyển sang hậu kiểm, từ đó tiếp tục cắt giảm thêm ít nhất một phần ba số điều kiện hiện hành. Tinh thần xuyên suốt phải là bảo đảm quyền tự do kinh doanh đúng như Hiến pháp quy định”, ông Cung nhấn mạnh.