|
| Nghị định số 210/2026/NĐ-CP tạo khung pháp lý thống nhất cho việc điều chỉnh giá hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định. Ảnh: Song Lê |
Bổ sung trường hợp điều chỉnh hợp đồng trọn gói, đơn giá cố định
Theo ông Đàm Đức Biên, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), quá trình áp dụng các quy định tại Nghị định số 37/2015/NĐ-CP (NĐ 37) còn một số khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ. Trong đó, NĐ 37 thiếu quy định đối với tình huống phát sinh trong thực tế như biến động giá khi kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng trọn gói, kéo dài tiến độ, thời gian thực hiện hợp đồng do yêu cầu của cấp có thẩm quyền; chưa quy định về một số loại hợp đồng…
Việc xây dựng nghị định mới thay thế NĐ 37 nhằm hoàn thiện, đồng bộ hệ thống pháp luật về xây dựng, cụ thể hóa các quy định của pháp luật về quản lý hợp đồng xây dựng phù hợp với Luật Xây dựng năm 2025 và các quy định của pháp luật có liên quan đến hợp đồng xây dựng; bảo đảm tính minh bạch, đồng bộ của hệ thống pháp luật, khắc phục các bất cập, vướng mắc trong thực tế.
Bộ Xây dựng cho biết, một trong những vướng mắc lớn thời gian qua là quy định về điều chỉnh giá hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định trước những biến động rất lớn về giá. Theo NĐ 37, giá hợp đồng trọn gói không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, chỉ được điều chỉnh hợp đồng cho những khối lượng công việc bổ sung ngoài phạm vi công việc theo hợp đồng đã ký kết và trường hợp bất khả kháng. Với hợp đồng theo đơn giá cố định, đơn giá không thay đổi trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng.
Theo nhiều chuyên gia, việc viện dẫn sự kiện bất khả kháng là không khả thi với thực trạng biến động giá, lối mở là quy định sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định của pháp luật về dân sự tại Điều 70 của Luật Đấu thầu.
Để tạo khung pháp lý thống nhất cho việc điều chỉnh 2 loại hợp đồng này, Nghị định số 210/2026/NĐ-CP (NĐ 210) quy định trường hợp được điều chỉnh đối với hợp đồng trọn gói, gồm sự kiện bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản, thay đổi phạm vi công việc hoặc các trường hợp khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật; với hợp đồng theo đơn giá cố định, gồm sự kiện bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản hoặc các trường hợp khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời, NĐ 210 bổ sung 1 điều quy định về rủi ro, sự kiện bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản, trong đó, hướng dẫn quy trình xử lý trong trường hợp xảy ra biến động giá bất thường, vượt quá khả năng dự báo của các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng, có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện hợp đồng đã giao kết.
Siết tạm ứng, tăng trách nhiệm của nhà thầu trong thực hiện hợp đồng
Theo NĐ 37, mức tạm ứng hợp đồng không được vượt quá 50% giá trị hợp đồng tại thời điểm ký kết, trừ trường hợp đặc biệt phải được cấp thẩm quyền cho phép. NĐ 210 điều chỉnh mức này còn không vượt quá 30%. Trường hợp cần tạm ứng với mức cao hơn cho bên nhận thầu đặt cọc hoặc thanh toán trước cho nhà sản xuất, nhà cung ứng vật tư, thiết bị theo thiết kế công nghệ để bảo đảm yêu cầu của dự án và các trường hợp cần thiết khác thì phải được người quyết định đầu tư cho phép.
Cùng với đó, mức bảo đảm thực hiện hợp đồng cũng có sự điều chỉnh. NĐ 37 quy định mức bảo đảm từ 2% đến 10%, trường hợp rủi ro cao có thể ở mức cao hơn nhưng không quá 30% và phải được người có thẩm quyền quyết định đầu tư chấp thuận. NĐ 210 vẫn giứ mức 2% đến 10% nhưng sửa đổi quy định trường hợp rủi ro cao cần mức lớn hơn 10% thì thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
Ngoài ra, NĐ 37 chỉ quy định nguyên tắc chung “bên nhận thầu không được nhận lại bảo đảm thực hiện hợp đồng trong trường hợp từ chối thực hiện hợp đồng sau khi hợp đồng có hiệu lực và các trường hợp vi phạm khác được quy định trong hợp đồng”. NĐ 210 quy định chi tiết “bên nhận thầu không được nhận lại bảo đảm thực hiện hợp đồng trong trường hợp từ chối thực hiện hợp đồng sau khi hợp đồng có hiệu lực; chậm tiến độ do lỗi của bên nhận thầu nhưng từ chối gia hạn hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng và các trường hợp vi phạm khác đến mức phải thu hồi bảo đảm thực hiện hợp đồng được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật”.
Thực tế, không ít trường hợp nhà thầu đấu thầu giảm giá thấp với mục tiêu trúng thầu, được tạm ứng thực hiện hợp đồng và dùng vốn tạm ứng cho mục đích khác, dẫn đến thi công chậm trễ. Tại Chỉ thị 12/CT-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu quản lý chặt chẽ việc tạm ứng, thu hồi tạm ứng, bảo đảm nguồn vốn tạm ứng được sử dụng đúng đối tượng, đúng mục đích; rà soát tình trạng hiệu lực các bảo lãnh của nhà thầu, nhà đầu tư.
Theo một số chuyên gia, việc giảm trần tạm ứng sẽ hạn chế tình trạng nhà thầu chiếm dụng vốn ngày sau khi ký hợp đồng, giảm rủi ro thất thoát tiền tạm ứng khi dự án bị đình trệ. Đồng thời, Nghị định 210 bổ sung trường hợp không được nhận lại bảo đảm thực hiện hợp đồng giúp chủ đầu tư có chế tài xử lý khi nhà thầu thi công vi phạm tiến độ, bảo lãnh sắp hết nhưng không có động thái gia hạn.
Một số điểm mới khác tại NĐ 210
Theo hình thức giá hợp đồng, ngoài các loại hợp đồng quy định tại NĐ 37, NĐ 210 bổ sung hợp đồng theo kết quả đầu ra và hợp đồng theo tỷ lệ phần trăm, đồng bộ với quy định của pháp luật về đấu thầu.
NĐ 37 không quy định về việc điều chỉnh khối lượng công việc giữa các thành viên trong liên danh. NĐ 210 bổ sung quy định trường hợp điều chỉnh khối lượng, công việc giữa các thành viên trong liên danh nhà thầu không làm thay đổi giá hợp đồng xây dựng thì bên giao thầu quyết định trên cơ sở thỏa thuận, thống nhất của các thành viên liên danh và năng lực, kinh nghiệm của từng thành viên, bảo đảm an toàn, chất lượng, hiệu quả, thời gian và tiến độ thực hiện hợp đồng.
NĐ 210 tích hợp phụ lục hướng dẫn phương pháp điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng, trong đó cụ thể hóa công thức tính toán hệ số điều chỉnh giá (Pn) ở cấp Nghị định, giúp việc điều chỉnh giá được áp dụng sớm và thống nhất…
NĐ 210 cho phép các bên tự thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng. Trong thời gian giải quyết tranh chấp, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện những nghĩa vụ không liên quan đến nội dung tranh chấp, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. NĐ 210 bổ sung cơ chế áp dụng "ban xử lý tranh chấp" theo thông lệ quốc tế.
Nghị định mới cũng quy định cụ thể các trường hợp được tạm dừng thực hiện hợp đồng xây dựng. Theo đó, bên nhận thầu được quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng nếu bên giao thầu không thanh toán đầy đủ giá trị đến hạn trong thời gian quá 28 ngày kể từ ngày hết hạn thanh toán, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Một bên cũng được quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng nếu bên còn lại không thực hiện nghĩa vụ bảo đảm thực hiện hợp đồng theo quy định. Thời gian thông báo phải được thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng, tối đa không quá 28 ngày, trừ trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng.