787 tỷ xây hầm chui Vành đai 2 TP.HCM: Khó khăn gói thầu thi công trong phạm vi đường sắt

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Gói thầu XL03 Xây dựng hầm chui HC1, cải tạo, mở rộng đường Phạm Văn Đồng phạm vi nút giao thuộc Dự án thành phần (DATP) 2 Xây dựng Vành đai 2 TP.HCM, đoạn từ đường Võ Nguyên Giáp đến đường Phạm Văn Đồng có yêu cầu kỹ thuật đặc thù: không chỉ thi công hầm chui trong nút giao đô thị lớn, mà còn phải thi công nhiều hạng mục trong phạm vi đường sắt hiện hữu, khiến nhiều nội dung được nhà thầu yêu cầu làm rõ nhằm giảm rủi ro trong việc lập giá dự thầu, tổ chức thi công nếu trúng thầu.

Phạm vi thi công Gói thầu XL03 Xây dựng hầm chui HC1, cải tạo, mở rộng đường Phạm Văn Đồng phạm vi nút giao có liên quan đến tuyến đường sắt hiện hữu. Ảnh: Ngọc Tuấn
Phạm vi thi công Gói thầu XL03 Xây dựng hầm chui HC1, cải tạo, mở rộng đường Phạm Văn Đồng phạm vi nút giao có liên quan đến tuyến đường sắt hiện hữu. Ảnh: Ngọc Tuấn

Gói thầu XL03 có giá 787,2 tỷ đồng, do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng (QLDA ĐTXD) các công trình giao thông TP.HCM làm chủ đầu tư.

Theo hồ sơ mời thầu (HSMT), hầm chui HC1 nằm trong tổng thể nút giao có cầu vượt, đường song hành, hệ thống thoát nước, hạ tầng kỹ thuật. Đồng thời, phạm vi thi công có liên quan đến tuyến đường sắt hiện hữu, khiến nhà thầu không thể chỉ tính toán trên khối lượng xây lắp thông thường, mà phải dự liệu cả điều kiện tổ chức thi công trong môi trường có hệ thống đường sắt Bắc - Nam đang khai thác.

Một số nhà thầu tại TP.HCM chia sẻ, khi thi công công trình giao thông đô thị, rủi ro thường đến từ mặt bằng, giao thông hiện hữu và hạ tầng ngầm. Với Gói thầu XL03, yếu tố đường sắt tạo thêm một lớp rủi ro riêng. Nhà thầu phải tính đến thời gian chạy chậm tàu, phương án phong tỏa, nhân công phòng vệ, trực gác, phối hợp điều độ, khấu hao vật tư phụ trợ và trình tự thi công được cơ quan quản lý, vận hành đường sắt chấp thuận. Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ, mà còn tác động trực tiếp đến giá dự thầu và khả năng kiểm soát chi phí trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Đặc thù trên lý giải vì sao HSMT nhận được nhiều yêu cầu làm rõ xoay quanh các yếu tố ảnh hưởng đến việc lập giá dự thầu và tổ chức thi công trong phạm vi đường sắt.

Theo yêu cầu làm rõ, nhà thầu chỉ ra sự khác biệt giữa các tài liệu của HSMT: bảng tiến độ tổng thể trong bản vẽ thiết kế xác định thời gian thi công đốt hầm kín qua đường sắt là 150 ngày, phần thuyết minh tổ chức thi công lại nêu 180 ngày. Việc chênh lệch 30 ngày ảnh hưởng tới việc huy động máy móc, nhân lực, chi phí quản lý công trường, chi phí duy trì biện pháp bảo đảm an toàn đường sắt.

Theo thuyết minh tổ chức thi công, trong thời gian thi công đốt hầm kín phải bố trí lực lượng trực gác, phòng vệ 24/24 giờ, gồm 1 người tại công trường và 1 người tại ga để thông tin, cảnh báo tàu qua công trình. Với cách tính này, số lượng nhân công tương ứng lên tới 1.080 công lao động trong thời gian thi công. Tuy nhiên, tại bảng khối lượng mời thầu, hạng mục “nhân công phòng vệ đón tiễn tàu hầm chui đường sắt” lại thể hiện khối lượng là 1 công, khiến nhà thầu đề nghị làm rõ căn cứ xác định khối lượng mời thầu.

Về chi phí khấu hao đối với hệ thống vật tư, thiết bị phụ trợ thi công đường sắt, HSMT quy định nhiều hạng mục như dầm cầu tạm, ray, tà vẹt, bu lông, thép hệ dầm gánh, hệ sàn đạo… được tính theo thời gian khấu hao 3 tháng hoặc 6 tháng. Nhà thầu cho rằng, nếu thời gian chạy chậm tàu được xác định là 180 ngày thì cần làm rõ mối liên hệ giữa thời gian khấu hao với thời gian thực tế được phép thi công trong phạm vi đường sắt để có cơ sở xây dựng đơn giá phù hợp.

Thứ tư là nội dung liên quan đến khoản chi phí bồi thường chạy chậm và phong tỏa đường sắt. Nhà thầu nhận thấy bảng khối lượng mời thầu có bố trí khoản tạm tính hơn 876 triệu đồng, trong khi một số biểu mẫu khác của HSMT lại chưa thể hiện tương ứng. Từ đó, nhà thầu đề nghị làm rõ đây có phải khoản tạm tính theo quy định của HSMT hay không, có phải giữ nguyên giá trị khi lập hồ sơ dự thầu, có phải lập biểu mẫu riêng, cơ sở thanh toán khoản chi phí này trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Trước yêu cầu của nhà thầu, Chủ đầu tư phản hồi cho biết, thời gian thi công đốt hầm kín trong phạm vi đường sắt được xác định thống nhất là 180 ngày. Đối với khoản chi phí bồi thường chạy chậm, Chủ đầu tư yêu cầu các nhà thầu chào theo đúng giá trị đã quy định trong HSMT; việc thanh toán sẽ được thực hiện trên cơ sở văn bản chấp thuận, xác nhận của cơ quan quản lý đường sắt theo từng giai đoạn triển khai thi công. Về “nhân công phòng vệ đón tiễn tàu hầm chui đường sắt”, chủ đầu tư không giải thích khối lượng 1 công mà yêu cầu chào theo HSMT.

Nội dung trả lời của Chủ đầu tư khiến nhiều nhà thầu chưa hết băn khoăn. Một nhà thầu cho biết, chỉ riêng việc huy động nhân lực trực gác, bố trí lực lượng phòng vệ, duy trì thiết bị, vật tư phụ trợ hay tổ chức thi công theo các khung thời gian được phép có thể tạo ra sự khác biệt đáng kể giữa các phương án kỹ thuật và phương án tài chính của từng nhà thầu. Đây cũng là nhóm chi phí khó lượng hóa chính xác nhất ở giai đoạn lập hồ sơ dự thầu. Hơn nữa, thời gian thực hiện Gói thầu 560 ngày càng đặt thêm áp lực cho nhà thầu trong khâu quản trị rủi ro…

Sau thời điểm đóng thầu theo kế hoạch (9h30 ngày 3/7/2026), Chủ đầu tư đã gia hạn đóng/mở thầu đến ngày 13/7/2026 nhằm tăng thêm số lượng nhà thầu tham gia.

Kết nối đầu tư