Kỳ vọng ổn định tỷ giá, kiểm soát rủi ro dòng tiền

(BĐT) - Lãi suất giữ ổn định từ đầu năm đến nay, tỷ giá tăng mạnh hơn các năm trước song vẫn trong phạm vi kiểm soát và lạm phát ở mức thấp. Đó là những chỉ số tích cực, cho thấy công tác điều hành đạt hiệu quả cao trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, với mặt bằng lãi suất thấp và nguồn cung tiền lớn, vòng quay tiền thấp, nhiều ý kiến quan ngại về các rủi ro tiềm ẩn và đặt vấn đề cần chú trọng kiểm soát chặt dòng tiền, đồng thời giữ ổn định tỷ giá.

Nỗ lực ổn định tỷ giá chịu áp lực lớn do nhu cầu ngoại tệ tăng mạnh vào những tháng cuối năm, ảnh hưởng từ chính sách thuế quan của Mỹ và nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã hoàn thành đơn hàng cả năm. Ảnh: Lê Tiên
Nỗ lực ổn định tỷ giá chịu áp lực lớn do nhu cầu ngoại tệ tăng mạnh vào những tháng cuối năm, ảnh hưởng từ chính sách thuế quan của Mỹ và nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã hoàn thành đơn hàng cả năm. Ảnh: Lê Tiên

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, trong tháng 8, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước ở mức 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,3 - 4,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,6 - 5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 4,9 - 6,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,8 - 7,3%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng.

Lãi suất cho vay bình quân của NHTM trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 6,5 - 8,8%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4%/năm).

Theo ông Đinh Đức Quang, Giám đốc kinh doanh tiền tệ tại Ngân hàng UOB Việt Nam, mặt bằng lãi suất tương đối ổn định trong suốt thời gian qua, lãi suất cho vay ngắn hạn với các doanh nghiệp của UOB và các ngân hàng khác phổ biến ở mức 5%. Cơ hội giảm mặt bằng lãi suất thời gian tới là khó vì cần hài hòa với các yếu tố khác, gồm: lợi ích của người gửi tiền, tương quan lãi suất của các đồng tiền khác và tác động tỷ giá.

Ở khía cạnh khác, ông Quang cho biết, nhiều doanh nghiệp kỳ vọng trước hết là tỷ giá ổn định, lãi suất ổn định và sau đó mới là tăng trưởng bao nhiêu phần trăm. Đây là điều cần thiết để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp và yên tâm hoạt động.

GS. TS. Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội cho rằng, một trong những mục tiêu điều hành vĩ mô quan trọng được đặt ra từ đầu năm nay là giữ lãi suất ở mức thấp và kiểm soát lạm phát, song mục tiêu này sẽ gây áp lực với tỷ giá. Bên cạnh đó, thời gian qua, tỷ giá USD/VND chịu áp lực lớn do nhiều yếu tố, trong đó có cả việc các nhà đầu tư gián tiếp rút vốn. Từ đầu năm đến nay, trên thị trường chứng khoán, khối ngoại đã bán ròng 102.000 tỷ đồng, lớn hơn con số bán ròng cả năm 2024 (93.000 tỷ đồng). Trong những tháng cuối năm, dù áp lực tỷ giá đã giảm nhờ Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất, song vẫn còn nhiều yếu tố gây bất lợi với nỗ lực ổn định tỷ giá. Đó là nhu cầu ngoại tệ tăng mạnh vào những tháng cuối năm, dư địa xuất khẩu sang Mỹ không lớn do chính sách thuế quan đã có hiệu lực và nhiều doanh nghiệp đã hoàn thành đơn hàng cả năm nên nguồn ngoại tệ trở về sẽ không nhiều.

15.jpg
Cần đẩy mạnh cung tiền vào các lĩnh vực ưu tiên và kiểm soát chặt dòng tiền vào các lĩnh vực có nguy cơ tích lũy đầu cơ tài sản. Ảnh: Phú An

“Việc duy trì tỷ giá là rất quan trọng trong thời gian tới, nếu tỷ giá biến động thì sẽ ảnh hưởng ngay đến hoạt động xuất nhập khẩu, dòng vốn đầu tư nước ngoài và tác động bất lợi đến nền kinh tế. Vừa qua, trong hai ngày 25 - 26/8, NHNN đã triển khai biện pháp can thiệp bằng việc bán USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày (có hủy ngang) cho các ngân hàng. Đây là một trong những bước điều hành hữu hiệu, thời gian tới, cần dùng nhiều hơn các giải pháp kỹ thuật để duy trì ổn định tỷ giá”, ông Cường nhấn mạnh.

Mặt khác, theo ông Cường, với áp lực như vậy, không nên kỳ vọng quá nhiều vào việc tiếp tục giảm lãi suất nhằm đẩy vốn tín dụng cho nền kinh tế. Thay vào đó, có thể điều chỉnh dòng tiền vào nền kinh tế một cách chọn lọc, có chất lượng. Vị giáo sư kinh tế này nêu vấn đề: “Cung tiền đổ ra nền kinh tế đã rất lớn, tăng trưởng tín dụng ước đạt gần 12% đến cuối tháng 8 trong khi lạm phát chỉ ở mức 3,25% và vòng quay tiền rất thấp, chỉ 0,67 lần. Vậy, tiền đi đâu? Có gây rủi ro gì không, có thể gây lạm phát tiềm ẩn hoặc biến thành cục máu đông trong nền kinh tế hay không?”.

Do đó, ông Cường cho rằng, để tránh những rủi ro tiềm ẩn thì cần chú trọng đẩy mạnh cung tiền vào các lĩnh vực ưu tiên và kiểm soát chặt dòng tiền vào các lĩnh vực có nguy cơ tích lũy đầu cơ tài sản, bởi có dấu hiệu cho thấy dòng tiền chảy vào kênh này. Cụ thể, với thị trường bất động sản, tăng trưởng tín dụng lĩnh vực này rất cao, song chủ yếu vào bất động sản cao cấp, đây là điều đáng ngại bởi có thể gây ra nguy cơ “chôn tiền”. Để kiểm soát dòng tiền vào phân khúc cụ thể, có thể bằng cách tăng tỷ lệ dự phòng rủi ro với nhóm bất động sản thuộc phân khúc này.

Với thị trường chứng khoán, con số được công bố cho thấy tỷ trọng tín dụng chứng khoán rất thấp. Trong khi đó, thanh khoản trên thị trường lớn, nhiều loại cổ phiếu tăng giá 30%. “Có phải là tăng giá trị thực nhờ doanh nghiệp niêm yết hoạt động tốt hay do mất cân đối cung cầu khi nguồn cung vẫn vậy mà cầu tăng quá mạnh nhờ bơm tiền, cấp vốn với tỷ lệ margin cao, biến công ty chứng khoán trở thành một dạng ngân hàng? Điều này cần được quan tâm đánh giá và kiểm soát tỷ lệ margin của các công ty chứng khoán”, ông Cường nhấn mạnh.

Theo ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tăng trưởng tín dụng năm nay nhiều khả năng sẽ đạt hoặc vượt mục tiêu 16%, song điểm đáng lo ngại là chất lượng tài sản, rủi ro danh mục cho vay và áp lực lạm phát tiềm ẩn vẫn tiếp tục tồn tại. Trong ngắn hạn, nợ xấu gia tăng và lợi nhuận ngân hàng suy giảm sẽ hạn chế dư địa cho việc nới lỏng tiền tệ hơn nữa. Sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa chính sách tài khóa và tiền tệ sẽ hỗ trợ tăng trưởng bền vững, đồng thời không gây áp lực quá mức lên chính sách tiền tệ và bảo đảm ổn định tài chính vĩ mô.

Kết nối đầu tư