|
| Ảnh minh họa: Internet |
Qua quan sát diễn biến kinh tế qua từng quý, Cục Thống kê cho biết, tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 được hình thành trên cơ sở sự kết hợp của nhiều động lực. Trong đó, các động lực truyền thống như đầu tư, sản xuất - xuất khẩu, tiêu dùng nội địa tiếp tục giữ vai trò quyết định đối với tăng trưởng; trong khi các động lực mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, cải cách thể chế bước đầu phát huy tác dụng mang tính hỗ trợ và tạo nền tảng cho tăng trưởng trung và dài hạn.
Năm 2025 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số được quan tâm, thúc đẩy mạnh mẽ với công nghệ số, dữ liệu lớn và tự động hóa được ứng dụng sâu rộng trong quản lý và sản xuất kinh doanh. Sự lan tỏa của kinh tế số và đổi mới sáng tạo giúp hoạt động quản lý nhà nước và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tối ưu hóa, đồng thời mở ra cơ hội tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Trong đó, kinh tế số tiếp tục mở rộng và lan tỏa vào nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, từ thương mại, tài chính đến logistics và dịch vụ công. Trong năm 2025, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020.
Tốc độ tăng quy mô giá trị tăng thêm của kinh tế số theo giá hiện hành bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 12,1%. Trong đó, năm 2021 đạt mức thấp nhất là 7,2%; năm 2025 cao nhất là 18,4%. Theo giá so sánh, tốc độ tăng trưởng kinh tế số năm 2025 đạt khoảng 11,8% (so với năm 2024); bình quân giai đoạn 2021 - 2025, giá trị tăng thêm của kinh tế số ở mức 9,8%.
Theo khu vực kinh tế, khu vực 1 (nông, lâm nghiệp và thủy sản) đóng góp 0,13%; khu vực II (công nghiệp, xây dựng) đóng góp 6,67% và khu vực III (dịch vụ) đóng góp lớn nhất với 7,22%.
Kinh tế số phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó các ngành kinh tế số lõi chiếm trên 60%. Đồng thời, mức độ số hóa trong các ngành, lĩnh vực ngày càng được mở rộng, đặc biệt là thương mại, tài chính, dịch vụ hành chính và hạ tầng năng lượng.
Đáng chú ý, các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh và quản lý điều hành có xu hướng tăng nhanh, góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của kinh tế số khu vực dịch vụ trong GDP từ 6,5% năm 2020 lên 7,2% năm 2025. Điều này thể hiện sự nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương trong việc đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin và truyền thông, hoạt động số hóa của các ngành kinh tế ngày càng được tăng cường.
Ở cấp địa phương, kinh tế số đã trở thành nhân tố tạo khác biệt về tăng trưởng, với một số tỉnh, thành phố có tỷ trọng đóng góp trong GRDP vượt 20%. Những kết quả này phản ánh hiệu quả bước đầu của Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, vai trò dẫn dắt của Chính phủ số và nỗ lực đồng bộ của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân trong phát triển kinh tế số và xã hội số.
Nhìn chung, kinh tế số ngày càng đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc xây dựng một nền kinh tế số mạnh mẽ không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và bao trùm trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
Trên thế giới, một số quốc gia đã nghiên cứu, công bố chỉ tiêu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP nhưng không thường xuyên và có sự khác biệt về kết quả giữa các quốc gia.
Cụ thể, Canada năm 2018 là 5,4% và năm 2019 là 5,5% của GDP; Mỹ giai đoạn 2020 - 2022 lần lượt là 10,4%, 10,3% và 10,1% của GDP; Úc giai đoạn 2020 - 2024 lần lượt là 6,3%, 6,4%, 6,2%, 6,2% và 6,3%; Thái Lan năm 2023 khoảng 6% của GDP (tương đương 36 tỷ USD) và dự kiến đạt khoảng 11% của GDP vào năm 2027; Singapore năm 2022 là 17,3%, năm 2023 là 18,0% và năm 2024 là 18,6% GDP; Philippines năm 2023 và 2024 lần lượt là 8,4% và 8,5% GDP; Trung quốc, năm 2020 ngành kinh tế số lõi là 7,8%, năm 2023 khoảng 9,9% và ước tính 2024 khoảng 10,5% GDP; Malaysia, đóng góp của hàng hóa ICT và thương mại điện tử trong GDP năm 2023 và 2024 lần lượt là 23,0% và 23,4%.