|
| Tính đến cuối tháng 5, tăng trưởng tín dụng đạt 5,7% trong khi tăng trưởng huy động chỉ đạt 2,98%. Ảnh: Ngọc Thắng |
Ngày 8/6, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) công bố tăng 0,6 điểm % lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn từ 6 - 12 tháng và tăng 0,4 điểm % lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 - 36 tháng. Sau điều chỉnh, lãi suất tiền gửi trực tuyến dành cho khách hàng cá nhân lĩnh lãi cuối kỳ được BIDV niêm yết mới cho kỳ hạn 6 - 11 và 13 - 36 tháng là 7,2%/năm. Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng là 7,4%/năm.
Từ đầu tháng 6 đến nay, nhiều ngân hàng “chào” tăng lãi suất tiết kiệm. Tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB), lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng đã lên mức 8,1% từ mức 7,7% trong tháng 5. Tại Ngân hàng MBV, lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên mức 8,54%, đặc biệt lãi suất kỳ hạn 1 tháng lên mức 5,5%. Hiện tại, lãi suất kỳ hạn 6 tháng trên 8% khá phổ biến tại nhiều ngân hàng TMCP. Đây là mức lãi suất cao nhất trong 3 năm qua.
Trên thị trường giao dịch liên ngân hàng, lãi suất cũng từng vọt lên đến 11% vào ngày 1/6 trước khi hạ nhiệt xuống mức 5,5% do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện các biện pháp hỗ trợ thanh khoản.
Cùng xu thế này, lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh tại một số ngân hàng đã nhích thêm 0,2 - 0,5 điểm % tính từ đầu tháng 5 đến nay.
Đà tăng lãi suất cho thấy các ngân hàng vẫn phải đối mặt với tình trạng thanh khoản gặp khó khăn. Theo nhóm nghiên cứu của Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), chênh lệch nguồn vốn giữa huy động và cho vay tiếp tục được nới rộng tính đến cuối tháng 5 với tăng trưởng tín dụng đạt 5,7% và tăng trưởng huy động đạt 2,98% kết hợp với lạm phát liên tục tăng tốc do hiệu ứng truyền dẫn của giá xăng dầu, xu hướng này còn tiếp diễn và khiến mặt bằng lãi suất khó có thể hạ nhiệt ở phần còn lại của năm 2026. Trong kịch bản khả quan, ACBS dự báo, NHNN có thể sẽ cân nhắc các biện pháp nới lỏng chính sách về chỉ số an toàn thanh khoản và điều kiện ưu đãi cho dự án trọng điểm (đầu tư công, nhà ở xã hội...) đồng thời duy trì vùng lãi suất danh nghĩa không thấp để duy trì sự ổn định của tỷ giá và lạm phát.
TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, nhiều ngân hàng thiếu hụt thanh khoản khiến mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng. Bên cạnh chênh lệch huy động và cho vay, tình trạng thiếu hụt thanh khoản còn có nguyên nhân từ tình trạng huy động vốn ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn. Mặt khác, yếu tố đáng chú ý là lạm phát tiếp tục ở mức cao.
“Vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bằng lãi suất thấp, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu rất thách thức. Điểm thuận lợi hiện nay là tiềm lực ngân sách nhà nước khả quan, thu ngân sách thời gian qua đạt kết quả tốt, tạo dư địa để tăng đầu tư công. Đây là cách sử dụng chính sách tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh chính sách tiền tệ phải thận trọng hơn nhằm kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, cần phát triển thị trường vốn mạnh mẽ hơn nữa để giảm sự lệ thuộc vào vốn tín dụng, từ đó giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô”, ông Thành nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng cho rằng, bên cạnh chênh lệch lớn giữa huy động và cho vay, nợ xấu ở mức cao cũng là yếu tố gây thiếu hụt dòng tiền trong ngân hàng. Hiện nya NHNN đang áp dụng nhiều giải pháp hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng như cho phép cộng 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào mẫu số khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR), bơm thanh khoản trên thị trường mở, thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ. Tuy nhiên, đây là các nguồn huy động mang định hướng, ngắn hạn trong khi hoạt động cấp vốn tín dụng tập trung vào những kỳ hạn dài hơn, dẫn đến chênh lệch kỳ hạn và làm tăng áp lực thanh khoản cho hệ thống. Bên cạnh đó, nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết đến hết quý I/2026 đã lên mức hơn 290 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 28 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2025, là một nguyên nhân khiến ngân hàng gặp khó về thanh khoản.
“Đây là bài toán rất thách thức với cơ quan điều hành bởi NHNN muốn lãi suất ở mức thấp để hỗ trợ tăng trưởng, song nội lực ngành ngân hàng vẫn còn nhiều điểm cần cải thiện. Nền kinh tế vẫn phụ thuộc quá lớn vào vốn tín dụng, lạm phát và tỷ giá cũng không hỗ trợ nỗ lực giảm lãi suất. Bên cạnh việc giải quyết thanh khoản tạm thời, cần các giải pháp căn cơ để thay đổi cấu trúc nguồn vốn trong nền kinh tế theo hướng phát huy tích cực kênh huy động vốn từ thị trường chứng khoán”, ông Hiếu nói.