|
| Dư nợ cho vay mua nhà |
Trong danh sách các ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính quý II/2026, có 3 ngân hàng ghi nhận mức tăng quy mô nợ xấu trên 20%. ABBank là ngân hàng dẫn đầu với tốc độ tăng 62% so với đầu năm (thêm hơn 618 tỷ đồng). Điểm đáng chú ý là tốc độ tăng nợ xấu nhanh gấp hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng tín dụng (18,55%) dù tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ chỉ ở mức 1,2%. Điều này cho thấy danh mục cho vay phát sinh rủi ro nhanh hơn tốc độ mở rộng quy mô kinh doanh.
Bên cạnh đó, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) tăng 4,5 lần (từ 177,7 tỷ đồng lên 816,6 tỷ đồng) cho thấy nhiều khách hàng bắt đầu gặp khó khăn về khả năng trả nợ trong kỳ (quá hạn từ 91 - 180 ngày), buộc ngân hàng phải tăng đáng kể chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, bào mòn lợi nhuận hoạt động của Ngân hàng trong các kỳ báo cáo tiếp theo. Nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) vẫn ở mức gần 569 tỷ đồng, gần như không giảm trong 6 tháng, cho thấy tiến độ thu hồi nợ xấu tồn đọng hoặc xử lý còn tương đối chậm.
Đứng thứ hai về tốc độ “phình” nợ xấu là VPBank với mức tăng 21,05%, thấp hơn đà tăng trưởng tín dụng 23%. Tổng số nợ xấu bổ sung trong nửa đầu năm là 6.622 tỷ đồng cho thấy áp lực chi phí dự phòng rủi ro sẽ đè nặng lên lợi nhuận của ngân hàng trong các quý tới. Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của ngân hàng này đã giảm từ 3,33% xuống 3,28% dù đây vẫn là ngưỡng tương đối cao theo tiêu chuẩn an toàn của ngành. Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) có mức tăng mạnh nhất từ 10.880 tỷ đồng lên 15.718 tỷ đồng (tăng tới 44,46%).
Cùng xu hướng này, LPBank ghi nhận hơn 7.900 tỷ đồng nợ xấu, tương ứng tốc độ tăng nợ xấu gần 21%, trong khi tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm nay là 9,63%. Tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1,68% lên 1,85%, dù vẫn nằm trong ngưỡng kiểm soát an toàn (dưới 3%) nhưng xu hướng tăng cho thấy chất lượng tài sản bắt đầu chịu áp lực suy giảm.
Nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) và nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng lần lượt 60,59% và 54,8%. Nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) chiếm 54,8% tổng nợ xấu, yêu cầu ngân hàng phải trích lập dự phòng 100%, gây áp lực trực tiếp lên chi phí hoạt động.
Techcombank ghi nhận thêm 972 tỷ đồng nợ xấu trong nửa đầu năm, tương ứng mức tăng gần 12%, tỷ lệ nợ xấu nhích nhẹ từ 1,13% lên 1,16%. Nợ cần chú ý (nhóm 2) tăng 46,4%, cho thấy áp lực trả nợ của khách hàng đang gia tăng.
ACB bổ sung thêm gần 990 tỷ đồng nợ xấu trong nửa đầu năm, tương ứng mức tăng gần 15%, tỷ lệ nợ xấu vẫn duy trì ở mức rất thấp khoảng 1%. Nợ nhóm 2 tăng từ 2.474,8 tỷ đồng lên 4.790,5 tỷ đồng, cho thấy áp lực suy giảm chất lượng tài sản trong các quý tiếp theo vẫn còn lớn.
VIB, KienlongBank là hai ngân hàng có tốc độ tăng nợ xấu ở mức thấp, lần lượt 2,49% và 6,25% trong nửa đầu năm. KienlongBank ghi nhận nợ nhóm 5 gia tăng đáng kể ở mức gần 25%, chiếm tỷ trọng lớn nhất (55,03%) trong tổng quy mô nợ xấu.
Saigonbank là ngân hàng duy nhất giảm quy mô nợ xấu với mức giảm 1,34%. Ở quy mô vốn nhỏ, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng này trong nửa đầu năm chỉ đạt 1%, tương ứng hơn 232 tỷ đồng.
Theo nhận định của SSI Research, xu hướng nợ xấu gia tăng sẽ tiếp tục gia tăng trong nửa cuối năm 2026. Dự báo, cuối năm 2026, tỷ lệ nợ xấu (NPL) sẽ ở mức 1,8% (so với 1,76% cuối năm 2025), dư nợ nhóm 2 ở mức 1,4% (+20 điểm cơ bản), tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm về khoảng 85%, trong khi chi phí tín dụng nhìn chung đi ngang. Mặc dù quy mô rủi ro đã mở rộng hơn so với cuối năm 2025, nhưng chưa đến mức có thể kích hoạt một rủi ro hệ thống.
SSI Research khuyến nghị một số rủi ro cần theo dõi. Theo đó, rủi ro đến từ lãi suất thả nổi của các khoản vay mua nhà (điểm rơi rủi ro trong quý III). Các khoản vay được giải ngân trong giai đoạn 2023 - 2024 với mức lãi suất trong thời gian ân hạn 2 - 3 năm sẽ chuyển sang trạng thái thả nổi với lãi suất cao. Nếu lãi suất tiền gửi duy trì ở mức cao lâu hơn dự kiến, tốc độ hình thành nợ xấu trong phân khúc này có thể tăng nhanh trong quý III, quý IV.
Bên cạnh đó, rủi ro tái cấp vốn của các chủ đầu tư bất động sản cần phải được theo dõi chặt chẽ từ nửa cuối năm 2026 trở đi. Dư nợ cho vay đối với chủ đầu tư đã tăng ròng thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng kể từ cuối năm 2023. Với kỳ hạn vay phổ biến 2 - 3 năm, nhu cầu tái cấp vốn sẽ gia tăng rõ rệt từ cuối năm 2026.
Mặt khác, việc điều chỉnh quy hoạch tổng thể Hà Nội được coi là yếu tố cần theo dõi trong trung hạn. Quá trình tái cấu trúc các khu vực phát triển đô thị tại Hà Nội có thể ảnh hưởng đến giá trị tài sản bảo đảm bằng bất động sản đang thế chấp tại ngân hàng. Đây chưa phải là yếu tố tác động tức thời lên kết quả kinh doanh, do ảnh hưởng được đo bằng năm chứ không phải quý. Tuy nhiên, vấn đề này đòi hỏi các ngân hàng chủ động đánh giá lại tài sản bảo đảm và duy trì kỷ luật trích lập dự phòng.
Từ góc độ cơ quan điều hành thị trường tiền tệ, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Thanh Hà cho biết, trong nửa đầu năm nay, công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu được ngành ngân hàng triển khai quyết liệt. Sự ổn định, an toàn của hệ thống các TCTD tiếp tục được giữ vững, quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền được bảo đảm. Nợ xấu được tập trung xử lý và kiểm soát trong bối cảnh nền kinh tế và sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. NHNN chỉ đạo các TCTD tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động trên cơ sở tuân thủ nghiêm quy định pháp luật, bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả; quyết liệt xử lý nợ xấu, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh.