Cán cân thương mại đảo chiều: Doanh nghiệp nội cần nâng cao năng lực xuất khẩu

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - 4 tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại đảo chiều sang nhập siêu 7,11 tỷ USD, trái ngược với mức xuất siêu 4,3 tỷ USD cùng kỳ năm trước. Theo một số chuyên gia, diễn biến này cho thấy, nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp (DN) trong nước là bài toán cấp thiết cần lời giải nhằm cải thiện thực chất cán cân xuất khẩu, đồng thời góp sức cho tăng trưởng GDP bền vững.

4 tháng đầu năm 2026, cả nước ước nhập siêu 7,11 tỷ USD, trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu tới 15,61 tỷ USD. Ảnh: Lê Tiên
4 tháng đầu năm 2026, cả nước ước nhập siêu 7,11 tỷ USD, trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu tới 15,61 tỷ USD. Ảnh: Lê Tiên

Cán cân thương mại nghiêng sang nhập siêu

Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, về xuất khẩu (XK), kim ngạch XK hàng hóa 4 tháng ước đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 33,65 tỷ USD, tăng 0,4%, chiếm 20% tổng kim ngạch XK; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 134,88 tỷ USD, tăng 25,8%, chiếm 80%.

Trong 4 tháng đầu năm 2026 có 24 mặt hàng đạt kim ngạch XK trên 1 tỷ USD, chiếm 89,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD. Nhóm XK nhiều chủ yếu là hàng công nghiệp chế biến, ước đạt 151,5 tỷ USD, chiếm 89,9%; nhóm hàng nông sản, lâm sản ước đạt 12,68 tỷ USD, chiếm 7,5%; nhóm hàng thủy sản ước đạt 3,55 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 0,8 tỷ USD, chiếm 0,5%. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường XK lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 53,9 tỷ USD.

Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu (NK) hàng hóa 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 175,64 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 49,27 tỷ USD, tăng 20,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 126,37 tỷ USD, tăng 32,3%.

NK nhiều nhất là hàng tư liệu sản xuất, ước kim ngạch lên tới 165,37 tỷ USD, chiếm 94,2%. Trung Quốc là thị trường NK lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 69 tỷ USD.

Kim ngạch NK có tốc độ tăng nhanh hơn kim ngạch XK, khiến cán cân thương mại đảo chiều từ xuất siêu sang nhập siêu. 4 tháng đầu năm 2026, cả nước ước nhập siêu 7,11 tỷ USD, trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu lên tới 15,61 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) vẫn xuất siêu 8,5 tỷ USD.

Trao đổi với phóng viên Báo Đấu thầu, TS. Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công Thương) nhận xét, cán cân thương mại 4 tháng đầu năm 2026 đảo chiều so với cùng kỳ (4 tháng đầu năm 2025 xuất siêu 4,3 tỷ USD) là một câu chuyện đáng phân tích kỹ. “Nhìn cả chặng đường dài, từ năm 2012 (trừ năm 2015) đến nay, cán cân cân thương mại hàng hóa nước ta chủ yếu là xuất siêu, do đó, việc cán cân thương mại 4 tháng đầu năm 2026 đảo chiều sang nhập siêu có thể khiến nhiều chủ thể lo lắng”.

Lo lắng đầu tiên là việc xuất siêu ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP). XK ròng là 1 trong 4 thành tố (cùng với chi tiêu của Chính phủ, đầu tư của DN và tiêu dùng hộ gia đình) tạo nên giá trị GDP hàng năm. Nếu tình trạng xuất siêu không được cải thiện sẽ làm giảm giá trị GDP, ảnh hưởng đến khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Trong góc nhìn của TS. Lê Quốc Phương, nhập siêu là một thực tế mới, nhưng số liệu mới chỉ phản ánh 4 tháng đầu năm, trong khi cán cân thương mại thường được đánh giá theo cả năm. Hơn nữa, theo quy luật, những tháng đầu năm nước ta thường NK nhiều nguyên vật liệu, máy móc để phục vụ sản xuất và XK trong các tháng sau đó. Nhìn vào cơ cấu hàng hóa NK cho thấy, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 94,2% cơ cấu hàng hóa NK, chỉ chưa tới 6% kim ngạch NK là phục vụ tiêu dùng. Điều này đồng nghĩa với việc NK chủ yếu nhằm phục vụ hoạt động sản xuất. Với nguồn nguyên liệu nhập siêu từ đầu năm, ông Phương hy vọng những tháng cuối năm cán cân thương mại sẽ đảo chiều, nghiêng về xuất siêu.

Năng lực cạnh tranh của DN nội ra sao?

Năm 2025, tổng kim ngạch XK hàng hóa của Việt Nam đạt 475,04 tỷ USD, nhưng khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch XK; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%. Thực tế này cho thấy, kết quả xuất siêu của Việt Nam phần lớn dựa vào khu vực FDI, trong khi DN nội địa vẫn yếu thế.

Theo TS. Lê Quốc Phương, nhập siêu ngắn hạn là một câu chuyện, nhưng điều đáng lo ngại hơn là năng lực cạnh tranh dài hạn của DN nội địa. “Nhìn vào kim ngạch XK hàng hóa 4 tháng năm 2026 cho thấy, thị phần XK của khu vực DN trong nước chỉ chiếm khoảng 20%, giảm mạnh so với mức gần 30% cách đây vài năm. Dường như DN nội ngày càng “lép vế” trước khu vực FDI”, ông Phương nói.

Không chỉ chiếm tỷ trọng thấp, một số chuyên gia cho rằng, DN trong nước nhiều năm nay phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu NK. Ngay cả những ngành XK chủ lực như dệt may, da giày hay nông, lâm, thủy sản cũng phải NK phần lớn đầu vào, khiến giá trị gia tăng tạo ra không cao. Dù có nhiều chỉ đạo, chính sách thúc đẩy sự liên kết giữa khu vực FDI với DN trong nước, nhưng các khu vực kinh tế vẫn hoạt động độc lập, mức độ liên kết còn lỏng lẻo.

TS. Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế nhận định, khu vực FDI đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nhưng mức độ liên kết giữa DN FDI và DN trong nước còn nhiều hạn chế và chưa đạt kỳ vọng.

Số liệu của cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh cho biết, 4 tháng đầu năm 2026, nước ta ghi nhận gần 120.000 DN gia nhập và tái gia nhập thị trường, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm 2025. Quy mô vốn đăng ký bình quân/DN khoảng 10,1 tỷ đồng cho thấy, phần lớn DN mới đều là DN quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Trong khi đó, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của các DN FDI, họ chiếm ưu thế vượt trội về vốn, công nghệ và thị trường.

Các ý kiến cho rằng, bài toán cốt lõi hiện nay là nâng cao chất lượng DN nội địa, không chỉ về số lượng mà cả năng lực quản trị, tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực; đồng thời, cần thúc đẩy liên kết giữa DN trong nước và khu vực FDI nhằm tận dụng cơ hội chuyển giao công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chỉ khi DN nội địa mạnh lên và phát triển thực chất mới có thể đưa nền kinh tế nước ta xuất siêu thực sự, chứ không phải là xuất siêu nhờ vào DN FDI. “Điều quan trọng không phải là xuất siêu hay nhập siêu trong ngắn hạn, mà là làm sao để nền kinh tế thực sự xuất siêu dựa trên chính năng lực của DN nội địa”, ông Phương nhấn mạnh.

Kết nối đầu tư