Lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế: Vì sao doanh nghiệp lớn được giãn tiến độ thực thi?

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Thực thi báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế (IFRS) được xem là bước giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nguồn vốn quốc tế khi nói chung ngôn ngữ tài chính với toàn cầu. Theo Quyết định 345/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, hàng loạt chủ thể gồm công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Nhà nước, công ty niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn, công ty mẹ quy mô lớn… thuộc đối tượng bắt buộc thực thi IFRS sau giai đoạn áp dụng tự nguyện 2022 - 2025. Tuy nhiên, trước một số thách thức thực tiễn, Bộ Tài chính dự kiến giãn tiến độ thực thi bắt buộc với các chủ thể trên thêm một vài năm.

IFRS là một yếu tố đáp ứng nhu cầu niêm yết trên thị trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp huy động vốn với chi phí thấp. Ảnh: Techcombank
IFRS là một yếu tố đáp ứng nhu cầu niêm yết trên thị trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp huy động vốn với chi phí thấp. Ảnh: Techcombank

Những chủ thể tiên phong

Quyết định 345/QĐ-BTC phê duyệt “Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam” được Bộ Tài chính ban hành năm 2020 đã vạch ra lộ trình áp dụng IFRS với các doanh nghiệp (DN) Việt Nam và DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Để chuẩn bị cho lộ trình thực thi bắt buộc sau năm 2025, một số doanh nghiệp lớn như Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk), Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã thực thi báo cáo tài chính (BCTC) theo chuẩn mực IFRS bên cạnh việc lập và công bố BCTC theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS). Vì những khác biệt giữa 2 chế độ kế toán nên BCTC của các doanh nghiệp tiên phong ghi nhận sự khác biệt đáng kể về hiệu quả kinh doanh giữa 2 loại báo cáo: lập theo VAS và lập theo chuẩn IFRS trong một số năm gần đây.

Cụ thể, tại Vinamilk - nơi Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước sở hữu 36% vốn - BCTC hợp nhất theo VAS ghi nhận lợi nhuận sau thuế năm 2025 đạt 9.413 tỷ đồng, trong khi BCTC theo IFRS cùng năm 2025, lợi nhuận sau thuế Vinamilk chỉ là 8.505 tỷ đồng. Năm 2024, BCTC theo VAS của Vinamilk ghi nhận lợi nhuận sau thuế 9.452 tỷ đồng, nhưng con số trên BCTC theo chuẩn IFRS là 8.686 tỷ đồng.

Tại Techcombank, BCTC theo VAS năm 2024 ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 21.764 tỷ đồng, trong khi BCTC theo chuẩn IFRS năm 2024 cho biết, lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng chỉ đạt 18.991 tỷ đồng. Năm 2025, Techcombank công bố lợi nhuận sau thuế 25.954 tỷ đồng lập theo VAS. Ngân hàng này chưa công bố kết quả tài chính lập theo IFRS cho năm 2025.

Hiện tại, Bộ Tài chính đang xây dựng Dự thảo Thông tư hướng dẫn đối tượng, phạm vi và thể thức áp dụng IFRS tại Việt Nam, với dự kiến 2 chủ thể được lựa chọn áp dụng IFRS là các DN FDI và các DN, tổ chức kinh tế là thành viên Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Ngoài 2 chủ thể trên, các DN quy mô lớn, DN đại chúng, DN niêm yết chưa thuộc đối tượng phải thực thi IFRS khiến nhiều ý kiến nêu quan điểm cần bổ sung các chủ thể này, nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư quốc tế và mở cánh cửa giúp DN Việt huy động vốn.

Góp ý với Bộ Tài chính, UBND TP. Hà Nội đề xuất bổ sung đối tượng áp dụng Thông tư là các DN Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán. Theo UBND TP. Hà Nội, việc áp dụng IFRS để lập và trình bày báo cáo tài chính góp phần nâng cao tính minh bạch và tăng hiệu quả cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, đồng thời có tác động tích cực phục vụ công tác quản trị, điều hành DN, tổ chức kinh tế. Deloitte Việt Nam cũng cho rằng, Dự thảo Thông tư nên quy định mở để các DN trong nước khác (nhất là DN tư nhân, công ty đại chúng và niêm yết…) có thể lựa chọn áp dụng tùy theo nhu cầu và nguồn lực của DN. Hiệp hội DN châu Âu và Hiệp hội kế toán viên công chứng Anh Quốc cùng thúc đẩy việc áp dụng IFRS tại Việt Nam để đáp ứng nhu cầu của các DN châu Âu…

15.jpg
Báo cáo tài chính hợp nhất theo VAS ghi nhận lợi nhuận sau thuế năm 2025 của Vinamilk là 9.413 tỷ đồng, trong khi báo cáo tài chính theo IFRS cùng năm 2025 ghi nhận lợi nhuận sau thuế của Vinamilk là 8.505 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Tuấn Anh

Cân nhắc những điều kiện thực tế

Bộ Tài chính cho biết, việc áp dụng IFRS sẽ giúp nâng cao tính trung thực, minh bạch của BCTC, trách nhiệm giải trình của DN, tổ chức kinh tế. Lãnh đạo DN được nhận thông tin tốt hơn phục vụ cho việc dự báo kết quả hoạt động và dòng tiền trong tương lai, từ đó có căn cứ và công cụ để thực hiện công tác quản trị, điều hành phù hợp với tình hình thực tiễn.

Chưa kể IFRS là một yếu tố đáp ứng nhu cầu niêm yết trên thị trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để huy động vốn với chi phí thấp. Hiện nay, nhiều DN Việt Nam đã có nhu cầu phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế hoặc dự kiến niêm yết trên sàn giao dịch quốc tế (như Vingroup, HAGL, Vinamilk...) hoặc nhu cầu nhận tài trợ dưới hình thức vốn vay của các định chế tài chính như WordBank, IMF, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). Để thực hiện được, theo quy định của hầu hết các nhà tài trợ quốc tế và cơ quan quản lý chứng khoán nước ngoài, việc trình bày thông tin tài chính theo IFRS là điều kiện bắt buộc. Do đó, việc triển khai IFRS sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho DN, tổ chức kinh tế có thể thu hút được các nguồn lực tài chính phù hợp với chi phí thấp hơn, đem lại hiệu quả cao hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trước các đề xuất thúc đẩy triển khai áp dụng IFRS trên diện rộng, Bộ Tài chính cho rằng, các đề xuất đều có cơ sở. Tuy nhiên, việc lập và trình bày BCTC theo IFRS đòi hỏi các DN, tổ chức kinh tế phải ghi nhận ngay các khoản tổn thất trong năm, nên kết quả kinh doanh có thể sẽ bị ảnh hưởng trong ngắn hạn. Một thách thức khác là IFRS hướng đến việc trình bày tài sản và nợ phải trả theo giá trị thị trường tại thời điểm báo cáo, nên để làm được điều này đòi hỏi thị trường phải tương đối phát triển để cung cấp được các thông tin một cách đầy đủ, đáng tin cậy. Thị trường Việt Nam hiện nay mới chỉ cung cấp được một số thông tin cơ bản như giá cổ phiếu niêm yết, giá giao dịch các mặt hàng nhiên liệu, nông sản..., còn các thông tin như giá trị đất đai, tài nguyên… vẫn có sự khác biệt lớn giữa giá công bố của Nhà nước và giá giao dịch thực tế. Chưa kể, để đánh giá khả năng thu hồi nợ và định giá doanh nghiệp, tổ chức kinh tế còn cần các thông tin khác như độ tín nhiệm của DN, thị phần…, nên việc áp dụng IFRS với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam gặp một số khó khăn.

TTCK Việt Nam hiện có 10 doanh nghiệp FDI niêm yết hoặc đăng ký giao dịch (gồm CTCP Everpia; Dây và Cáp điện Taya Việt Nam; Công nghiệp Gốm sứ Taicera, Siam Brothers Việt Nam; Công nghiệp Tung Kuang; Dragon Capital Việt Nam; Gạch men Chang Yih…). Không chỉ các DN này, một số DN Việt Nam có tỷ lệ sở hữu nước ngoài từ 51% vốn trở lên như Công ty CP Dược Hậu Giang, cũng thuộc đối tượng được chọn lựa áp dụng IFRS.

Bên cạnh đó, nhân lực kế toán tại Việt Nam chưa được đào tạo chuyên sâu về IFRS. Đội ngũ cán bộ các cơ quan quản lý nhà nước chưa được tiếp cận, chưa am hiểu về IFRS. Chưa kể, một số cơ chế, chính sách tài chính của Việt Nam hiện có sự khác biệt tương đối lớn so với IFRS, nên nếu không điều chỉnh cơ chế, chính sách, đặc biệt là đối với DN Nhà nước thì sẽ gây ra khó khăn do sự không nhất quán trong cách thức tiếp cận, làm DN, tổ chức kinh tế gặp lúng túng khi áp dụng pháp luật.

Trước thực tế như trên, vì sự thận trọng và tránh các rủi ro tiềm ẩn, Cơ quan soạn thảo nêu quan điểm, trong thời gian trước mắt, Việt Nam chỉ nên quy định áp dụng tự nguyện IFRS đối với các DN, tổ chức kinh tế có đủ khả năng, nguồn lực và nhu cầu. Theo đó, Dự thảo Thông tư quy định, từ năm 2027, các DN FDI và nhóm DN, tổ chức kinh tế là thành viên Trung tâm tài chính quốc tế được lựa chọn áp dụng IFRS như một hình thức thí điểm và rút kinh nghiệm. Trường hợp Thông tư có hiệu lực từ 1/1/2027 thì BCTC được lập lần đầu theo IFRS của các đơn vị tự nguyện áp dụng sẽ bắt đầu từ năm 2028. Đến năm 2030, căn cứ vào thực tế triển khai, Bộ Tài chính sẽ tiến hành tổng kết, đánh giá để có các bước đi tiếp theo.

Kết nối đầu tư