|
| Dự báo áp lực lạm phát năm 2026 sẽ cao hơn năm 2025 nhưng không nhiều. Ảnh: Lê Công Tiến |
CPI 2026 dự báo tăng 3,5 - 4,1%
TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, CPI năm 2025 tăng 3,31% và CPI trung bình giai đoạn 2016 - 2025 tăng 3,09% cho thấy mặt bằng giá trong 10 năm gần đây duy trì tương đối ổn định. Về xu hướng giá cả năm 2026, ông Độ dự báo, áp lực lạm phát tiếp tục đến từ tác động trễ của tăng trưởng tín dụng cao năm 2025. Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 sẽ tạo thêm sức ép lên giá cả từ tổng cầu, bao gồm đầu tư và tiêu dùng đều tăng mạnh. Bên cạnh đó, tỷ giá USD/VND dự báo vẫn tăng trong năm 2026 nên sẽ tiếp tục tác động lên CPI.
Ở chiều ngược lại, theo ông Độ, áp lực lạm phát từ giá hàng hóa cơ bản trên thế giới được đánh giá là không quá lớn. Với triển vọng tăng trưởng toàn cầu ở mức thấp, giá hàng hóa khó tăng mạnh trong năm 2026, dù dư địa giảm sâu như năm 2025 không còn nhiều. Trong năm 2025, lãi suất đã có xu hướng tăng nhẹ do tăng trưởng tín dụng cao hơn so với tăng trưởng huy động. Xu hướng này được dự báo tiếp diễn trong năm 2026 và sẽ góp phần kiềm chế lạm phát.
“Dự báo áp lực lạm phát năm 2026 sẽ cao hơn năm 2025 nhưng không nhiều. CPI hàng tháng có thể tăng khoảng 0,3% và lạm phát bình quân cả năm xoay quanh mức 3,5%”, ông Độ nhấn mạnh.
Báo cáo kinh tế vĩ mô của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) nhận định, áp lực lạm phát có thể lớn hơn vào năm 2026, tuy nhiên vẫn nằm trong mục tiêu Chính phủ đặt ra. Các yếu tố giữ CPI ở mức thấp là: giá thực phẩm tăng nhẹ theo yếu tố mùa vụ nhưng Việt Nam luôn có khả năng tự chủ nguồn cung; giá dịch vụ y tế, giáo dục và điện tăng theo lộ trình thị trường, nhưng được điều chỉnh ở mức độ và thời điểm phù hợp để tránh lạm phát kỳ vọng… Từ các yếu tố trên, VCBS dự báo lạm phát năm 2026 trong khoảng 3,9% - 4,1%.
Người tiêu dùng thắt chặt “giỏ hàng”, lo tác động tới GDP
Dù xu hướng tăng giá cả được dự báo ở mức thấp trong năm 2026, song nhiều ý kiến băn khoăn về sức mua của nền kinh tế chưa tăng trưởng mạnh mẽ nên có thể tác động bất lợi đến sản xuất trong nước và ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP.
Số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng duy trì ở mức thấp trong 3 năm gần đây so với giai đoạn 2017 - 2019. Cụ thể, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (loại trừ yếu tố tăng giá) năm 2025 tăng 6,7%, tương đương mức tăng của năm 2024 và thấp hơn mức tăng 7,1% của năm 2023. Trong khi trước đại dịch Covid - năm 2019, năm 2018 và năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (loại trừ yếu tố tăng giá) lần lượt tăng 9,2%, 8,4% và 9,3%.
Báo cáo thị trường nội địa Việt Nam năm 2025 được Bộ Công Thương công bố mới đây cho thấy rõ sự thay đổi hành vi tiêu dùng của người Việt Nam. Những diễn biến bất thường của dịch bệnh, địa chính trị, cùng với lạm phát tăng cao ở nhiều khu vực trên thế giới ảnh hưởng đến giá cả một số mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu trong nước đã tạo tâm lý lo ngại đối với đời sống và thu nhập trong tương lai, khiến người tiêu dùng Việt Nam có xu hướng thận trọng hơn trong chi tiêu. Bên cạnh đó, mặc dù thu nhập của người dân có sự tăng trưởng qua các năm nhưng vẫn nằm trong nhóm thu nhập trung bình nên chi tiêu đối với hàng hóa thiết yếu vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Theo báo cáo khảo sát được NielsenIQ (NIQ) công bố năm 2025, trước tình trạng tăng giá, người tiêu dùng Việt Nam tỏ ra thận trọng trong việc mua sắm. Trong đó, 64% số người được khảo sát cho biết chỉ mua các mặt hàng thiết yếu khi giá thực phẩm tăng và 63% sẽ giảm số lượng mua sắm. Đồng thời, họ rất chú trọng đến các ưu đãi và khuyến mãi, với 75% luôn tận dụng các chương trình giảm giá để tiết kiệm chi phí.
Báo cáo của Bộ Công Thương khuyến nghị, qua đánh giá và phân tích về chính sách tài khóa và tiền tệ được triển khai trong năm 2025 nhằm hỗ trợ tăng trưởng cho thấy, mức giải ngân vốn đầu tư công chỉ thực sự tăng mạnh trong các tháng cuối năm 2025, do đó, lượng tăng cung tiền ra lưu thông thời gian qua có thể sẽ thực sự ngấm vào nền kinh tế từ đầu năm 2026. Trong giai đoạn này, Chính phủ cần tiếp tục theo dõi, đánh giá, dự báo mức độ lạm phát để điều chỉnh chính sách tài khóa và tiền tệ phù hợp, tránh để lạm phát tăng cao tác động tiêu cực đến thị trường hàng hóa và tiêu dùng trong năm 2026 và các năm tiếp theo.
TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công của Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, dù CPI năm 2025 tăng ở mức thấp nhưng giá cả một số mặt hàng thiết yếu tăng cao hơn mức tăng chung, chẳng hạn: chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,08%; chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,27%, trong đó nhóm thực phẩm tăng 3,61%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 3,81%; chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,07%... Các mặt hàng này tăng giá ảnh hưởng đến đời sống một bộ phận người dân, đặc biệt là những người thu nhập trung bình thấp.
Điểm đáng chú ý là dù mặt bằng giá cả nói chung thể hiện qua CPI tăng thấp, song sức mua thể hiện qua tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chưa tăng mạnh, đặc biệt trong bối cảnh thu nhập bình quân đầu người tăng, các chương trình kích cầu được triển khai trong thời gian qua. Mặt khác, sức mua thấp cũng tác động bất lợi tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nước, gián tiếp ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. “Do đó, cần tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ tài khóa như miễn, giảm thuế, phí, đẩy mạnh các chương trình kích cầu tiêu dùng hiệu quả và kiểm soát tốt các thị trường tài sản để tránh tình trạng đầu cơ, bong bóng”, ông Việt nói.
Từ góc độ khác, TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, giá hàng hóa vẫn trong xu thế đi lên và có tác động đến đời sống người dân. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong khi vẫn giữ lạm phát dưới ngưỡng 4 - 4,5%, bên cạnh việc kiểm soát giá cả thị trường, cần có sự phân công và phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Với tỷ lệ tín dụng trên GDP năm 2025 thuộc nhóm cao so với nhiều quốc gia cùng trình độ phát triển, chính sách tiền tệ cần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất và tỷ giá, kiểm soát nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.