Sau khi giảm nhẹ trong tháng 4, số lượng đơn đặt hàng mới tăng trở lại trong tháng 5, với mức tăng là đáng kể và đạt mức độ cao nhất trong 3 tháng. Ở một mức độ nào đó, tình trạng tăng số lượng đơn đặt hàng mới phản ánh việc tăng hàng tồn kho an toàn của các khách hàng và những quan ngại về ảnh hưởng của một cuộc xung đột kéo dài ở Trung Đông.
Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng trở lại cũng được ghi nhận, từ đó kết thúc chuỗi giảm kéo dài 2 tháng. Dù vậy, tốc độ tăng chỉ là nhẹ, khi chi phí vận tải cao và những vấn đề của khâu hậu cần đã làm hạn chế nhu cầu trên thị trường quốc tế.
Số lượng đơn đặt hàng mới tăng trở lại tương xứng với mức tăng đáng kể của sản lượng sản xuất trong tháng 5. Sản lượng đã tăng tháng thứ mười ba liên tiếp, với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 2.
Nỗ lực tích trữ hàng cũng được các nhà sản xuất ghi nhận khi hoạt động mua hàng đã tăng lần đầu trong 3 tháng, và tốc độ tăng là mạnh.
Tốc độ tăng chi phí đầu vào tiếp tục gia tăng vào giữa quý II, và đây là lần gia tăng thứ tư liên tiếp và trở thành mức nhanh nhất kể từ tháng 4/2011. Theo người trả lời khảo sát, nhiên liệu, dầu và vận tải là những nhân tố chính khiến chi phí đầu vào tăng.
Tốc độ tăng giá bán hàng vẫn tăng và nằm trong số những tốc độ tăng mạnh nhất trong 15 năm qua, mặc dù đã chậm lại một chút so với tháng 4.
Chi phí nhiên liệu và vận chuyển tăng, cộng thêm những vấn đề của khâu hậu cần, đã tiếp tục kéo dài thời gian giao hàng của nhà cung cấp trong tháng 5. Tuy nhiên, mức suy giảm hiệu suất hoạt động của người bán hàng kỳ này là ít đáng chú ý hơn so với kỳ khảo sát trước.
Thời gian giao hàng tiếp tục bị kéo dài khiến tồn kho hàng mua tiếp tục giảm, mặc dù hoạt động mua hàng có tăng. Hơn nữa, tốc độ giảm hàng tồn kho trước sản xuất là nhanh nhất trong gần một năm.
Tồn kho thành phẩm cũng giảm, mặc dù mức độ giảm là nhỏ hơn so với tháng 4.
Mặc dù số lượng đơn đặt hàng mới tăng trở lại trong tháng 5, tình trạng yếu kém của nhu cầu gần đây khiến các công ty vẫn có đủ năng lực để giải quyết lượng đơn hàng mới và cả lượng công việc tồn đọng. Kết quả là, lượng công việc chưa thực hiện đã giảm tháng thứ hai liên tiếp.
Bằng chứng của năng lực sản xuất dự phòng cũng là một nhân tố khiến số lượng việc làm trong ngành sản xuất giảm, và đây là lần giảm thứ ba trong 3 tháng. Tuy nhiên, tốc độ giảm việc làm chỉ là nhỏ.
Niềm tin về triển vọng sản lượng cho năm tới đã cải thiện thành mức cao của ba tháng trong tháng 5 dựa trên hy vọng số lượng đơn đặt hàng mới tăng và các kế hoạch mở rộng kinh doanh. Tuy nhiên, tâm lý kinh doanh vẫn ở mức thấp, phản ánh những quan ngại về ảnh hưởng lâu dài của cuộc xung đột Trung Đông