Hành trình 40 năm giải phóng sức sản xuất

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Chia sẻ với phóng viên nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh 2/9/2026, cũng là thời điểm đất nước chuẩn bị tròn 40 năm bước vào hành trình Đổi mới (1986 - 2026), GS. TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, sau bước ngoặt Đổi mới đưa đất nước bước lên tầm cao mới, giờ đây chúng ta đang nỗ lực thực hiện bước đột phá mạnh mẽ trong cải cách thể chế, kỳ vọng hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Phát triển con người và bảo đảm an sinh xã hội là một trong những trụ cột cần tập trung xây dựng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, gia nhập các quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Ảnh: Tuấn Anh
Phát triển con người và bảo đảm an sinh xã hội là một trong những trụ cột cần tập trung xây dựng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, gia nhập các quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Ảnh: Tuấn Anh
00-12-2.jpg
GS. TS. Hoàng Văn Cường

Thưa Giáo sư, quyết sách Đổi mới 1986 đã tạo ra một cuộc cách mạng về phân bổ lại nguồn lực từ công sang tư, từ tập trung sang thị trường. Từ góc độ mô hình tăng trưởng, sự chuyển dịch này đã đóng góp thế nào vào tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam trong những năm sau đó?

Việc chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường năm 1986 là bước ngoặt cải cách thể chế mang tính lịch sử. Thay vì phân bổ đất đai, vốn, lao động bằng mệnh lệnh hành chính, nền kinh tế chuyển sang cơ chế do thị trường điều tiết và đánh giá. Những chủ thể sử dụng nguồn lực hiệu quả được khuyến khích phát triển, còn các đơn vị yếu kém bị đào thải. Sự thay đổi cơ chế quản lý này đã giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất.

Khi bắt đầu Đổi mới năm 1986, Việt Nam là một trong những nền kinh tế nghèo nhất thế giới, với quy mô GDP chỉ khoảng 4,5 tỷ USD và GDP bình quân đầu người khoảng 74 USD. Đến năm 2025, quy mô nền kinh tế đã đạt 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới, thu nhập bình quân đầu người đạt 5.026 USD. Năm 2026, dự báo quy mô GDP đạt trên 560 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 5.400 - 5.500 USD. Trong suốt 40 năm qua, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,7%/năm, thuộc nhóm quốc gia tăng trưởng cao của khu vực và thế giới.

Về mặt đóng góp của TFP, trước thời điểm Đổi mới, các đánh giá quốc tế cho thấy chỉ số này gần như bằng 0 hoặc “âm” do mô hình sản xuất mệnh lệnh không tạo động lực áp dụng khoa học kỹ thuật. Khi cơ chế thị trường hình thành, các yếu tố công nghệ bắt đầu được phát huy. Đến giai đoạn 1994 -1995, TFP đã tăng khoảng 2,7%. Trong giai đoạn 2021 - 2025, TFP ) của Việt Nam đóng góp khoảng 47% vào tăng trưởng GDP, với tốc độ tăng bình quân khoảng 2,92%/năm. Thành tựu lớn nhất của Đổi mới chính là tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, biến Việt Nam từ một quốc gia thiếu đói, phải nhập khẩu lương thực và hàng tiêu dùng trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo và hàng hóa tiêu dùng hàng đầu thế giới.

Sau 40 năm, các thị trường nhân tố sản xuất của chúng ta vẫn bị đánh giá là chưa thực sự đồng bộ. Đâu là điểm nghẽn phân bổ nguồn lực lớn nhất làm gia tăng chi phí giao dịch cho nền kinh tế, thưa Giáo sư?

Đất đai chính là điểm nghẽn lớn nhất trong các thị trường nhân tố sản xuất hiện nay. Trong khi thị trường vốn và lao động đã vận hành tương đối linh hoạt với sự tham gia rộng rãi của tư nhân, thì cơ chế quản lý đất đai vẫn chịu nhiều ràng buộc hành chính. Việc duy trì khung giá đất do Nhà nước quy định trong một thời gian dài trước đây đã tạo ra sự lệch pha nghiêm trọng so với giá trị thực tế, gây thất thoát nguồn lực và phát sinh tranh chấp lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Nút thắt này cần được tháo gỡ bằng việc kiên định áp dụng công cụ thị trường gắn liền với vai trò điều tiết chủ động của Nhà nước. Luật Đất đai 2024 bỏ khung giá đất là bước đi đúng hướng, nhưng thực tế triển khai lại phát sinh bất cập khi cơ chế định giá bị dẫn dắt bởi giá thị trường “ảo”, khiến chi phí đền bù giải phóng mặt bằng tăng vọt, doanh nghiệp khó tiếp cận đất đai và người dân gặp áp lực lớn khi thực hiện nghĩa vụ tài chính. Nhà nước cần quản lý dựa trên giá trị kinh tế thực tế mà đất đai mang lại cho người sử dụng trong hiện tại và tương lai, kết hợp với công cụ thuế để điều tiết phần giá trị gia tăng do quy hoạch hay hạ tầng mang lại. Khi nghĩa vụ tài chính tương xứng với giá trị tạo ra, người sử dụng đất buộc phải khai thác hiệu quả hoặc nhường lại cơ hội cho chủ thể khác.

Bên cạnh đất đai, sự thiếu đồng bộ của thị trường tài chính cũng là một trở ngại lớn. Nền kinh tế đang phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng khi dư nợ đạt tới 150% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư còn khiêm tốn. Việc dùng vốn ngắn hạn ngân hàng cho vay đầu tư dài hạn không chỉ đe dọa an toàn hệ thống mà còn đẩy lãi suất lên cao. Rộng hơn, điểm nghẽn của điểm nghẽn chính là sự chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật, làm hạn chế tính năng động sáng tạo của các khu vực kinh tế cũng như sự hợp tác công tư trong phát triển kinh tế.

Liên quan đến hợp tác công tư, theo Giáo sư, làm cách nào tháo gỡ điểm nghẽn trong mô hình đối tác công tư (PPP) và phân bổ lại vốn đầu tư công để kích hoạt tối đa nguồn lực xã hội cho các dự án hạ tầng chiến lược?

Nhu cầu vốn đầu tư cho giai đoạn tới là rất lớn. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%/năm đến năm 2030, toàn nền kinh tế cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong khi ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 8,2 triệu tỷ đồng. Do đó, huy động hơn 30 triệu tỷ đồng từ khu vực tư nhân thông qua các dự án PPP là yêu cầu bắt buộc. Luật PPP đã có hiệu lực từ nhiều năm nay nhưng số lượng dự án triển khai thực tế còn hạn chế xuất phát từ ba nguyên nhân: rủi ro chia sẻ lợi ích, rào cản huy động vốn dài hạn và dự án chưa đủ hấp dẫn.

Cụ thể, rào cản lớn nhất đối với các nhà đầu tư tư nhân là sự thiếu vắng cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng khi các chính sách hoặc điều kiện xã hội thay đổi không do lỗi của họ. Để thu hút dòng vốn tư nhân, Chính phủ cần có cam kết mạnh mẽ hơn trong việc đồng hành và gánh vác rủi ro phát sinh. Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý cho phép nhà đầu tư PPP phát hành trái phiếu công trình để huy động vốn trực tiếp từ xã hội thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng, đồng thời có cơ chế để thúc đẩy đầu tư PPP vào các lĩnh vực văn hóa, thể thao, y tế và dịch vụ công.

Đặc biệt, vốn đầu tư công phải thể hiện đúng vai trò vốn mồi và nguồn vốn dẫn dắt. Nhà nước nên gánh vác toàn bộ chi phí giải phóng mặt bằng cho các dự án PPP và không tính khoản này vào tỷ lệ góp vốn, bởi đây là chi phí hạ tầng ban đầu không trực tiếp sinh lời nhưng lại quyết định tiến độ dự án. Đối với các công trình hạ tầng then chốt mang ý nghĩa an ninh quốc phòng, Nhà nước thậm chí cần đầu tư toàn bộ bằng vốn công để tạo tiền đề thu hút tư nhân tham gia khai thác vận hành.

00-12-1.jpg
Xây dựng nền kinh tế tự chủ, bền vững dựa trên năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh là một trong những trụ cột để đưa Việt Nam phát triển nhanh và bền vững

Bên cạnh các điểm nghẽn về nguồn lực nêu trên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở khâu gia công đang chạm trần. Ở cột mốc 2026, Việt Nam cần thay đổi chiến lược thu hút FDI và nâng cao năng lực nội tại như thế nào để tăng giá trị các nguồn lực trong chuỗi giá trị toàn cầu và thoát bẫy thu nhập trung bình?

Suốt hơn ba thập kỷ qua, thu hút FDI là một điểm sáng của Việt Nam, nhưng động lực chính chủ yếu vẫn dựa vào lao động giá rẻ và tài nguyên sẵn có. Điều này đẩy lực lượng lao động trong nước vào vị thế gia công ở phân khúc tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi sản xuất. Chẳng hạn, một công nhân may nhận 2 USD tiền công cho một chiếc áo thương hiệu ngoại bán ra với giá 30 USD; dù năng suất lao động có tăng gấp đôi thì giá trị thu về của công nhân vẫn rất nhỏ bé so với tổng giá trị sản phẩm.

Muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam bắt buộc phải chuyển từ gia công sang làm chủ các khâu có giá trị cao như nghiên cứu nguyên liệu mới, thiết kế mẫu mã, ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển thương hiệu. Bên cạnh đó, phải thay đổi vị thế trong quan hệ hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp trong nước không thể tiếp tục đứng bên ngoài chuỗi giá trị hay chỉ làm các dịch vụ phụ trợ đơn giản, mà phải nâng cao năng lực để trở thành đối tác ngang hàng với các tập đoàn quốc tế. Nhà nước cần đóng vai trò bệ đỡ thông qua các chính sách đặt hàng công nghệ, hợp tác công - tư trong nghiên cứu chuyển giao và định hướng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để lực lượng trong nước đủ sức đồng hành cùng các nhà đầu tư toàn cầu.

Nhìn lại chặng đường giải phóng sức sản xuất, khai phóng nguồn lực đất nước trong 40 năm qua và so sánh quá trình Đổi mới của Việt Nam với các mô hình phát triển thần kỳ tại Đông Á, đâu là điểm tương đồng và khác biệt lớn nhất trong chiến lược cải cách thể chế?

Điểm tương đồng lớn nhất giữa Việt Nam và các nền kinh tế thành công trong khu vực là việc coi cải cách thể chế là động lực quyết định để bứt phá. Các quốc gia Đông Á đã chuyển đổi thành công từ mô hình Nhà nước quản lý sang Nhà nước kiến tạo, mở đường cho doanh nghiệp và khơi thông mọi nguồn lực xã hội. Việt Nam hiện cũng xác định thể chế là đột phá của đột phá, tập trung chuyển đổi tư duy quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, loại bỏ cơ chế xin - cho để người dân và doanh nghiệp tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật.

Sự thay đổi căn bản hiện nay là chuyển từ quản lý hành vi sang quản lý dựa trên kết quả đầu ra. Thay vì xây dựng các quy định cứng nhắc nhằm thuận tiện cho cơ quan quản lý, các thể chế mới được thiết kế hướng tới việc tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp tuân thủ, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo công vụ. Cùng với đó là việc đẩy mạnh phân cấp, giao quyền chủ động và khuyến khích tinh thần sáng tạo cho cấp cơ sở, giúp các quyết định quản lý sát thực tiễn và linh hoạt hơn.

Đã qua những ngày tháng khó khăn của Đổi mới, đất nước đã phát triển lên một tầm cao mới và hướng đến mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đâu là các trụ cột quyết định mà Việt Nam cần tập trung xây dựng để hiện thực hóa mục tiêu này, thưa Giáo sư?

Mục tiêu đến năm 2045 không chỉ dừng lại ở chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người mà là sự phát triển toàn diện của quốc gia trên ba trụ cột cốt lõi. Trụ cột thứ nhất là xây dựng nền kinh tế tự chủ, bền vững dựa trên năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh, nhằm tạo ra tiềm lực kinh tế vững chắc. Trụ cột thứ hai là phát triển con người và an sinh xã hội, trong đó giáo dục, y tế và chính sách xã hội phải được đầu tư đồng bộ để nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm hạnh phúc thực sự cho người dân.

Trụ cột thứ ba mang tính bao trùm là hiện đại hóa mô hình quản trị quốc gia. Hệ thống bộ máy nhà nước cần tiếp tục được tinh gọn, phân công và kiểm soát quyền lực rõ ràng giữa các cơ quan, đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật công khai, minh bạch. Bên cạnh việc củng cố quốc phòng an ninh bằng công nghệ hiện đại, việc chủ động hợp tác quốc tế sẽ nâng cao vị thế và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Việc hoàn thiện đồng bộ ba trụ cột này chính là nền tảng vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Kết nối đầu tư