|
| Nguồn: Cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, FiinGroup, VWA |
Trong nửa đầu năm nay, VPBank (VPB) là ngân hàng đạt tăng trưởng tín dụng cao nhất ở mức hơn 23% với tổng dư nợ đạt 1,1 triệu tỷ đồng, chiếm 5,8% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế. Về cơ cấu nợ theo kỳ hạn, dư nợ trung và dài hạn đóng vai trò trụ cột trong tổng dư nợ của Ngân hàng. Tại thời điểm 30/06/2026, tổng dư nợ trung và dài hạn đạt 696,936 nghìn tỷ đồng, tăng 22,6% so với cuối năm trước.
Dư nợ tín dụng của VPB tiếp tục tập trung tại lĩnh vực kinh doanh BĐS. Dư nợ kinh doanh BĐS đạt 296 nghìn tỷ đồng, tăng 42,6% tính từ đầu năm đến nay và tăng 24% so với quý trước. Dư nợ tiêu dùng BĐS đạt 142,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10% tính từ đầu năm và tăng 2% so với quý trước. Dư nợ xây dựng đạt 60,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13% tính từ đầu năm, tăng 1% so với quý trước. Dư nợ tín dụng BĐS và xây dựng chiếm 43% tổng dư nợ. Với đặc thù tín dụng tập trung tại ngành BĐS có kỳ hạn dài, tăng trưởng tín dụng kỳ hạn dài hạn của VPB đã tăng 40,5% kể từ đầu năm, tỷ trọng tín dụng trung dài hạn chiếm 60% tổng dư nợ tín dụng của VPB. Diễn biến này khiến áp lực huy động vốn của VPB ở mức cao so với toàn ngành.
Tương tự, tại Techcombank, trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng dư nợ của Ngân hàng tăng trưởng 9,96%. Dư nợ trung và dài hạn vẫn tăng thêm 31.487 tỷ đồng (tăng 6,67%), nhưng tốc độ này thấp hơn mức tăng trưởng chung (9,96%) và thấp hơn nhiều so với nợ ngắn hạn (16,12%). Tín dụng trung và dài hạn vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo, song có xu hướng giảm xuống 63,28% tổng dư nợ từ mức 65,22% hồi đầu năm.
Điểm đáng chú ý tại Techcombank là dư nợ tín dụng ngành xây dựng tăng mạnh, từ mức 26,4 nghìn tỷ đồng đầu năm lên 41,2 nghìn tỷ đồng giữa năm, tương ứng mức tăng hơn 56% (tăng thêm gần 14,8 nghìn tỷ đồng chỉ sau 6 tháng, nâng tỷ trọng từ 3,65% lên 5,19%). Hoạt động kinh doanh BĐS vẫn duy trì tỷ trọng lớn, dù đã giảm từ 28,60% (cuối năm 2025) xuống 26,68% (tại 30/6/2026). Quy mô dư nợ kinh doanh BĐS vẫn tăng nhẹ thêm 5.284 tỷ đồng (tăng 2,55%), nhưng tốc độ này thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ chung của ngân hàng này.
Tại ACB, trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng dư nợ tín dụng tăng trưởng 8,1% (tương ứng tăng 54 nghìn tỷ đồng). Trong đó, nợ trung và dài hạn tăng lên mức 276,8 nghìn tỷ đồng vào cuối quý II/2026, nâng tỷ trọng nhóm nợ này lên 38,34% tổng dư nợ (tăng 2,5 điểm phần trăm tỷ trọng). Tốc độ tăng trưởng của nợ trung và dài hạn đạt 15,63%, cao gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng chung (8,1%) và cao vượt trội so với nợ ngắn hạn (3,89%).
Tại LPBank, nợ trung và dài hạn cũng có xu hướng tăng nhẹ dù tỷ trọng chỉ chiếm khoảng 38%. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng dư nợ của Ngân hàng tăng thêm 37,7 nghìn tỷ đồng, tương ứng mức tăng trưởng tín dụng đạt 9,63%. Tổng dư nợ trung và dài hạn tại ngày 30/06/2026 đạt 161,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,66% tổng dư nợ, tăng 10,24%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nợ ngắn hạn (7,63%) và nhỉnh hơn mức tăng trưởng tín dụng chung.
Tại Ngân hàng Kiên Long, trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng dư nợ đạt 77,6 nghìn tỷ đồng, tăng 8,42% so với cuối năm 2025. Đến cuối quý II, dư nợ trung và dài hạn đạt gần 36 nghìn tỷ đồng, chiếm 46,32% tổng dư nợ, giảm nhẹ hơn 1 điểm phần trăm về mặt tỷ trọng so với cuối năm 2025. Tổng dư nợ trung và dài hạn tăng trưởng 5,89%, thấp hơn và tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của Ngân hàng.
Tại Ngân hàng An Bình, 6 tháng đầu năm tổng dư nợ tín dụng tăng trưởng 18,55%. Nợ ngắn hạn của ABB bứt phá với mức tăng 25,05%, trong khi tổng dư nợ trung và dài hạn chỉ tăng 7,59%.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, hiện khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, trong khi nguồn vốn trung và dài hạn chỉ chiếm khoảng 20%. Cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng hiện chủ yếu đáp ứng nhu cầu cho vay ngắn hạn, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp là rất lớn. Theo tính toán của Cộng đồng Cố vấn tài chính Việt Nam - Vietnam Wealth Advisors (VWA), tỷ lệ vốn cho vay trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng liên tục tăng từ đầu năm 2025 đến nay, đạt khoảng 47,4% vào cuối quý I/2026.
Ông Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng cho rằng, tín dụng trung và dài hạn đóng vai trò chủ lực trong dư nợ cho vay là vấn đề dai dẳng của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Điều đáng lo ngại của tình trạng này là rủi ro lệch kỳ hạn và rủi ro thanh khoản. Khi thị trường xuất hiện biến động hoặc nhu cầu rút tiền tăng cao mà ngân hàng không thể thu hồi ngay các khoản cho vay dài hạn thì có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản.
Bên cạnh đó, dù chính sách đã nới tỷ trọng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên mức 40% để tạo điều kiện cho các ngân hàng có thêm nguồn lực cho vay trung và dài hạn, song tỷ trọng cho vay trung và dài hạn quá cao khiến nhiều ngân hàng phải tăng huy động bằng cách tăng lãi suất tiền gửi hoặc tăng phát hành giấy tờ có giá, cố gắng đáp ứng các tỷ lệ quy định của NHNN về an toàn nguồn vốn.