|
| Kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn và khả năng chống chịu cần được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch. Ảnh: Lê Toàn |
Không phải khu công nghiệp nào cũng phải tự làm mọi thứ
Đây là nội dung được đặt ra tại phiên thảo luận “Giải pháp tạo lợi thế cạnh tranh cho KCN thế hệ mới”, trong khuôn khổ Diễn đàn Bất động sản Công nghiệp Việt Nam 2026 (VIPF) diễn ra ngày 29/9.
“Khu công nghiệp thế hệ mới có thể là một hệ sinh thái sản xuất”, TS. Nguyễn Trâm Anh, Quản lý Dự án Quốc gia Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu (GEIPP) tại Việt Nam, UNIDO, nhấn mạnh.
Theo bà Trâm Anh, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn và khả năng chống chịu được tính đến ngay từ khâu quy hoạch.
Điều này đòi hỏi nhà quy hoạch không chỉ tính diện tích đất, giao thông hay công suất xử lý, mà phải nhìn vào mối quan hệ giữa các doanh nghiệp: phụ phẩm của ngành này có thể trở thành đầu vào của ngành khác, nước sau xử lý có thể tái sử dụng ở đâu và doanh nghiệp nào cần được bố trí gần nhau để giảm chi phí logistics.
Ông Đào Nguyên Khánh, Trưởng Bộ phận Phát triển Bền vững và Truyền thông Doanh nghiệp, INSEE Việt Nam, dẫn chứng doanh nghiệp đang sử dụng xỉ thép, tro bay và một số dòng chất thải phù hợp làm nguyên liệu hoặc nhiên liệu thay thế.
Tại nhà máy xi măng ở KCN Thị Vải, nguồn xỉ thép từng được nhập từ Nhật Bản, sau đó chuyển sang Hòa Phát. Hiện nguồn cung từ Công ty CHC tại KCN Mỹ Xuân, cách nhà máy chưa tới 10 km, giúp rút ngắn vận chuyển, ổn định nguồn nguyên liệu và giảm phát thải.
Theo ông Khánh, khi nhà quy hoạch hiểu rõ chuỗi giá trị, việc bố trí không gian KCN sẽ phát huy hiệu quả cộng sinh. Khi đó, một phụ phẩm chỉ trở thành chất thải hay tài nguyên còn phụ thuộc vào khả năng tìm được doanh nghiệp khác có nhu cầu và đủ điều kiện sử dụng.
Từ một khu công nghiệp đến mạng lưới nhiều khu công nghiệp
Cộng sinh công nghiệp không nhất thiết giới hạn trong một KCN. Với các KCN đã hình thành, vị trí nhà máy khó thay đổi, nhưng có thể kết nối thông qua logistics và chuỗi cung ứng.
Theo ông Đào Nguyên Khánh, các trung tâm phân loại và phục hồi tài nguyên, chất thải (MRF) có thể đóng vai trò kết nối hai hoặc nhiều KCN. MRF tiếp nhận, phân loại chất thải và chuyển các dòng có giá trị tới doanh nghiệp có nhu cầu, thay vì mỗi KCN phải đầu tư một hệ thống hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, hạ tầng chỉ là một phần. Ông Trần Nhật Ninh, Phó Tổng giám đốc CTCP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong, cho rằng điểm thiếu hụt quan trọng là năng lực cộng sinh công nghiệp.
Doanh nghiệp cần biết dòng vật chất đầu vào, đầu ra của nhau, từ phụ phẩm, phế liệu đến nước sau xử lý. Trong khi đó, dữ liệu về các dòng vật chất còn thiếu minh bạch, cơ chế trao đổi tài nguyên chưa đầy đủ và niềm tin giữa doanh nghiệp còn hạn chế.
Theo ông Ninh, tích hợp hạ tầng điện, nước và xử lý chất thải ngay từ đầu có thể hạn chế đầu tư trùng lặp, giảm chi phí và rút ngắn thời gian đưa nhà máy vào vận hành. Song song đó là cơ chế chia sẻ dữ liệu để kết nối nguồn cung với nhu cầu.
Nếu MRF là “hạ tầng cứng” thì dữ liệu, tiêu chuẩn và cơ chế chia sẻ là “hạ tầng mềm” của mạng lưới cộng sinh.
Ở góc độ dài hạn, ông Prescott Gaylord, Giám đốc Phát triển bền vững khối Kho vận khu vực châu Á - Thái Bình Dương, DSV, cho rằng KCN cần được thiết kế đủ linh hoạt để thích ứng với những thế hệ sản xuất mới, từ xe tải điện, trạm sạc đến trung tâm dữ liệu và công nghệ pin.
Theo đó, tuần hoàn nước, năng lượng tái tạo, hiệu quả sử dụng năng lượng, dữ liệu và AI cần được tính đến ngay từ đầu để phát hiện lãng phí và hỗ trợ ra quyết định.
Từ góc nhìn này, KCN thế hệ mới không chỉ là một dự án có hạ tầng tốt hơn, mà là một mạng lưới liên kết giữa doanh nghiệp, các KCN và cộng đồng xung quanh.
Khi đó, xỉ thép có thể trở thành nguyên liệu, MRF có thể dùng chung cho nhiều KCN, dữ liệu kết nối nguồn cung với nhu cầu và hạ tầng có thể sẵn sàng cho những ngành sản xuất chưa xuất hiện. Ranh giới cạnh tranh vì thế không còn nằm ở hàng rào KCN, mà ở năng lực hình thành một hệ sinh thái sản xuất.