Gói EPC Kho LNG Vũng Áng 914 triệu USD: Gia hạn đóng thầu, tiếp tục làm rõ nhiều câu hỏi

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Gói thầu EPC thuộc Dự án Kho LNG Vũng Áng (Hà Tĩnh), trị giá 914,69 triệu USD, được gia hạn đóng thầu thêm 21 ngày, đến 27/11/2026. Trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu (HSDT), nhà thầu liên tục đề nghị làm rõ hồ sơ mời thầu (HSMT). Chủ đầu tư đã ban hành 4 công văn trả lời làm rõ, song một số vấn đề tiếp tục được nhà thầu đặt câu hỏi.

Ảnh chỉ mang tính minh họa: Ảnh AI
Ảnh chỉ mang tính minh họa: Ảnh AI

Ngày 30/10/2026, Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) gia hạn thời điểm đóng thầu Gói thầu Thiết kế, mua sắm, thi công xây lắp và chạy thử công trình thuộc Dự án Kho LNG Vũng Áng từ ngày 6/11 sang ngày 27/11/2026. Thông báo gia hạn không nêu cụ thể nguyên nhân. Trước đó, nhiều nhà thầu đề nghị kéo dài thời gian chuẩn bị HSDT đến tháng 1/2027, nhưng Chủ đầu tư chỉ gia hạn thêm 21 ngày.

Trong tháng 10, Chủ đầu tư lần lượt ban hành 4 công văn làm rõ: số 462/LNGVA-TCG ngày 21/10, số 468/LNGVA-TCG ngày 23/10, số 474/LNGVA-TCG ngày 27/10 và số 482/LNGVA-TCG ngày 29/10. Nội dung trải rộng từ ưu đãi đối với liên danh trong đấu thầu quốc tế, yêu cầu kỹ thuật, danh sách nhà cung cấp, bảo lãnh dự thầu và điều kiện hợp đồng.

Bảo lãnh dự thầu là một trong những vấn đề nổi bật được nhà thầu đề nghị làm rõ, khi phát hiện sự không thống nhất giữa Mục 17.5 Chương I - Chỉ dẫn nhà thầu và Mẫu số 05B Chương IV của HSMT. Cụ thể, Mục 17.5 quy định thời hạn thương thảo hợp đồng là 10 ngày, hoàn thiện hợp đồng 20 ngày và ký kết hợp đồng 20 ngày, còn tại Mẫu số 05B lần lượt là 5 ngày làm việc, 10 ngày và 10 ngày. Sự khác biệt này có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất khi nhà thầu đề nghị ngân hàng phát hành bảo lãnh dự thầu.

Trả lời đề nghị làm rõ, chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu tuân thủ Mục 17.5 Chương I, đồng thời ban hành Mẫu số 05A và 05B điều chỉnh, thống nhất các thời hạn thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng lần lượt là 10 ngày, 20 ngày và 20 ngày.

Liên quan đến bảo đảm dự thầu của nhà thầu liên danh, phía nhà thầu đề nghị xác nhận việc các thành viên được phát hành bảo lãnh riêng bằng VND theo tỷ lệ tham gia, với tổng giá trị 392,85 tỷ đồng, nhằm tránh chênh lệch tỷ giá. Theo Mẫu số 05B được điều chỉnh, từng thành viên liên danh có thể thực hiện bảo lãnh riêng hoặc một thành viên thực hiện bảo lãnh cho cả liên danh hay một số thành viên khác theo thỏa thuận. Trường hợp thỏa thuận liên danh không phân công cụ thể trách nhiệm, nhưng tổng giá trị bảo đảm dự thầu của các thành viên đáp ứng yêu cầu HSMT thì được đánh giá là đáp ứng. Tuy nhiên, mẫu điều chỉnh chưa quy định cụ thể tỷ giá áp dụng với trường hợp phát hành bảo lãnh bằng VND.

Tiêu chí hợp đồng tương tự là một trong những vấn đề được nhà thầu quan tâm. Theo yêu cầu làm rõ, HSMT quy định ngưỡng giá trị hợp đồng V là 457,35 triệu USD, phần mua sắm P là 173,805 triệu USD và phần xây dựng C là 683,762 triệu USD. Nhà thầu đặt câu hỏi về việc ngưỡng giá trị riêng phần xây dựng C cao hơn ngưỡng V, đồng thời đề nghị xác nhận các giá trị và hướng dẫn cách chứng minh kinh nghiệm bằng hợp đồng tổng thể hoặc từng phần công việc.

Nhà thầu cũng đề nghị làm rõ việc phần mua sắm đã hoàn thành, nghiệm thu trong hợp đồng đang thực hiện có được công nhận là kinh nghiệm tương tự hay không; mốc từ ngày 1/1/2018 được xác định theo thời điểm nghiệm thu phần việc hay toàn bộ hợp đồng. Về năng lực tài chính, nhà thầu đề nghị xác nhận việc sử dụng thư cam kết cấp tín dụng bằng VND có giá trị tương đương 76,225 triệu USD và phương pháp quy đổi sang USD.

Liên quan đến ưu đãi trong đấu thầu quốc tế, tại Công văn số 468/LNGVA-TCG ngày 23/10/2026, Chủ đầu tư hướng dẫn áp dụng quy định đối với nhà thầu nước ngoài liên danh với nhà thầu trong nước đảm nhận từ 25% giá trị công việc của gói thầu theo bản tiếng Việt của HSMT và pháp luật đấu thầu Việt Nam.

Đối với điều kiện hợp đồng, Công văn số 482/LNGVA-TCG làm rõ trách nhiệm thực hiện thủ tục cấp phép khai thác, sử dụng nước biển và đổ vật chất nạo vét ngoài biển. Theo đó, các giấy phép thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư theo phạm vi công việc, do chủ đầu tư thực hiện thông qua đơn vị tư vấn độc lập; nhà thầu có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ theo quy định của hợp đồng.

Về nghĩa vụ thuế, nhà thầu đề nghị làm rõ trách nhiệm đối với thuế nhà thầu nước ngoài, thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu và cơ chế khấu trừ. Chủ đầu tư hướng dẫn nhà thầu nghiên cứu HSMT cùng các quy định pháp luật thuế Việt Nam được dẫn chiếu trong hồ sơ, nhưng chưa giải thích riêng từng khoản thuế được phía nhà thầu nêu câu hỏi.

Tại công văn làm rõ thứ 4 (Công văn số 482/LNGVA-TCG ngày 29/10/2026), chủ đầu tư khẳng định: “Đối với các yêu cầu làm rõ còn lại, Chủ đầu tư sẽ tiếp tục xem xét và trả lời tại các văn bản làm rõ HSMT tiếp theo”.

Trong khi nhà thầu vẫn đang chờ được làm rõ câu hỏi về ngưỡng giá trị hợp đồng (V), nhất là khi phần xây dựng (C) cao hơn ngưỡng V, hướng dẫn cách chứng minh kinh nghiệm bằng hợp đồng tổng thể hoặc từng phần và phương pháp quy đổi VND sang USD thì ngày 3/11, công văn đề nghị làm rõ tiếp tục được gửi đến Chủ đầu tư. Tại công văn mới nhất, nhà thầu đề nghị xác định vị trí văn phòng công trường, kho bãi, khu gia công và khả năng sử dụng khu hạ tầng dùng chung rộng 5,55 ha; đồng thời hỏi cách kê khai giá trị bằng USD hay VND tại các biểu mẫu 9B, 9C.

Kết nối đầu tư