|
| Nhiều ngân hàng đề xuất nới thời hạn đưa giá trị khấu trừ tài sản bảo đảm về 0 đối với tài sản bảo đảm là bất động sản lên 5 năm. Ảnh: Nhã Chi |
Tại văn bản tổng hợp ý kiến góp ý đối với Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 86/2024/NĐ-CP về trích lập dự phòng rủi ro, việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro của tổ chức tín dụng và Nghị định số 01/2014/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam, NHNN nêu rõ quan điểm các TCTD phải trích lập dự phòng đầy đủ để có nguồn xử lý khi cần thiết, khi khách hàng bị chuyển nhóm nợ xấu ở ngân hàng khác thì khả năng trả nợ đã suy giảm, còn tài sản bảo đảm chỉ là nguồn thu nợ thứ cấp.
Về việc đưa giá trị khấu trừ tài sản bảo đảm về 0, điểm b khoản 5 Điều 4 Nghị định 86/2024/NĐ-CP quy định giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm phải coi bằng 0 khi quá 1 năm đối với tài sản không phải bất động sản và quá 2 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm TCTD có quyền xử lý.
Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) và Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đề xuất nới thời hạn đối với bất động sản lên 5 năm (VIB đề xuất tài sản khác là 3 năm) với dẫn chứng thực tế là việc khởi kiện, xét xử và thi hành án bất động sản thường kéo dài từ 3 đến 5 năm, thậm chí lâu hơn. Bên cạnh đó, các thủ tục gán nợ hay bán đấu giá phụ thuộc vào nhiều yếu tố pháp lý ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng, nên mốc 2 năm sẽ làm tăng áp lực trích lập dự phòng rủi ro không cần thiết.
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho rằng, Nghị định 86 yêu cầu giá trị khấu trừ tài sản bảo đảm của khách hàng được coi bằng 0 khi phải quá thời gian xử lý 2 năm đối với bất động sản và 1 năm với tài sản khác. Tuy nhiên, nhiều tài sản bảo đảm là bất động sản thuộc diện mới có quy hoạch, tài sản tranh chấp ngay từ khi khoản nợ quá hạn, TCTD đã nhận định khó thu hồi trong khoảng thời gian 2 năm; đối với tài sản là động sản, đặc biệt là máy móc thiết bị đặc thù thường rất khó có thể xử lý thu hồi trong 1 năm.
Do đó, 2 ngân hàng này đề xuất sửa đổi theo hướng cho phép TCTD căn cứ trên thời gian dự kiến thu hồi tài sản bảo đảm để tính giá trị khấu trừ tài sản bảo đảm nhằm chủ động dự phòng tài chính cho việc suy giảm chất lượng nợ khách hàng.
Về vấn đề này, NHNN giữ nguyên quy định và làm rõ rằng quy định này không giới hạn thời gian xử lý tài sản của ngân hàng mà nhằm buộc các TCTD phải trích lập dự phòng đầy đủ để có nguồn xử lý khi cần thiết. Đối với tài sản khó thu hồi, ngân hàng có thể chủ động tự xác định tỷ lệ khấu trừ thấp hơn theo quy định nội bộ.
Về xác định thời điểm "có quyền xử lý tài sản bảo đảm" để tính thời gian khấu trừ, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam và Eximbank đề nghị cần có hướng dẫn rõ ràng về mốc thời gian này theo hướng phân loại cụ thể: nếu thu giữ/bàn giao tài sản thì tính từ ngày ký biên bản bàn giao; nếu giải quyết qua tòa án/trọng tài thì tính từ ngày bản án hoặc quyết định thi hành án có hiệu lực.
Phản hồi các vướng mắc trên, NHNN giải thích thời điểm có quyền xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015 (tùy thuộc vào trường hợp nào đến trước như: đến hạn nghĩa vụ, vi phạm nghĩa vụ hoặc theo thỏa thuận khác), do đó không cần quy định riêng trong Nghị định 86.
Về quy định chuyển nhóm nợ theo CIC, Eximbank cho biết, theo quy định tại Nghị định 86, khi một khách hàng bị chuyển nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn tại ngân hàng A theo hệ thống CIC, các ngân hàng khác buộc phải thực hiện trích lập dự phòng căn cứ nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn này. Điều này tạo áp lực trích lập dự phòng cho TCTD dù khoản vay tại TCTD đó vẫn đang được bảo đảm bằng tài sản chất lượng cao.
Do đó, Eximbank đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung điều khoản cho phép TCTD được trích lập dự phòng theo nhóm nợ tự phân loại của TCTD đối với các khoản nợ có tài sản bảo đảm là tiền gửi, vàng, hoặc trái phiếu Chính phủ, kể cả khi khách hàng bị chuyển nhóm nợ cao hơn tại ngân hàng khác theo dữ liệu CIC.
NHNN không chấp nhận đề xuất này và giải thích rằng khi khách hàng bị chuyển nhóm nợ xấu ở ngân hàng khác thì khả năng trả nợ đã suy giảm, còn tài sản bảo đảm chỉ là nguồn thu nợ thứ cấp. Tuy nhiên, tài sản chất lượng cao sẽ có hệ số khấu trừ cao, qua đó tự động giảm thiểu số tiền dự phòng phải trích.