Sửa đổi, bổ sung khung pháp lý về phòng, chống rửa tiền

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Nhận biết khách hàng (KYC) và tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi là những quy định cần thiết để các ngân hàng và tổ chức tài chính thực hiện nghĩa vụ báo cáo phòng, chống rửa tiền. Đây cũng là những nội dung đáng chú ý tại Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 19/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền đang được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lấy ý kiến rộng rãi.

Ngân hàng Nhà nước đề xuất điều chỉnh quy định về nhận biết khách hàng và tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi để tăng cường minh bạch và phòng, chống rửa tiền. Ảnh: Nhã Chi
Ngân hàng Nhà nước đề xuất điều chỉnh quy định về nhận biết khách hàng và tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi để tăng cường minh bạch và phòng, chống rửa tiền. Ảnh: Nhã Chi

Một trong những thủ đoạn rửa tiền điển hình trong các dịch vụ tài chính là tội phạm thường nộp một khoản tiền lớn vào hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, sau đó nhanh chóng yêu cầu hủy hợp đồng và chấp nhận chịu một khoản phạt để nhận lại “tiền sạch” dưới dạng chi trả từ công ty bảo hiểm.

Đây cũng là thực tiễn quản lý được cơ quan soạn thảo nêu ra để phản hồi đề xuất của Công ty CP Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) về việc bổ sung quy định loại trừ “KYC" khi thực hiện các báo cáo về công tác phòng chống rửa tiền đối với các giao dịch trích tài khoản tự động thanh toán phí bảo hiểm định kỳ; luồng chuyển tiền hoàn phí bảo hiểm gốc cho khách hàng khi hủy hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ. Theo NHNN, việc đóng phí định kỳ và hoàn phí bảo hiểm gốc khi khách hàng hủy hợp đồng là hai thời điểm quan trọng diễn ra dòng tiền (vào và ra) và có thể bị lợi dụng cho hoạt động rửa tiền.

Cơ quan soạn thảo nhấn mạnh, doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ nhận biết khách hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng mà còn phải cập nhật thông tin KYC trong suốt quá trình duy trì quan hệ (bao gồm việc đóng phí bảo hiểm định kỳ) và khi phát sinh giao dịch chi trả (hoàn phí khi hủy hợp đồng).

Về nội dung này, Điều 6 của Nghị định 19 quy định các trường hợp tổ chức tài chính phải thực hiện KYC. Một trong các trường hợp đó là: “Khi khách hàng không có tài khoản hoặc có tài khoản nhưng không giao dịch trong thời gian 6 tháng liên tục trước đó thực hiện giao dịch nộp, rút hoặc chuyển khoản có tổng giá trị từ 400 triệu đồng trong một ngày trừ giao dịch tất toán hoặc rút lãi tiết kiệm, trả nợ thẻ tín dụng, trả nợ khoản cấp tín dụng cho tổ chức tài chính, khoản thanh toán định kỳ đã đăng ký với tổ chức tài chính, giao dịch rút lãi từ hoạt động đầu tư chứng khoán, đầu tư trái phiếu”.

Dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định này theo hướng mở rộng trường hợp thuộc diện KYC thành "một hoặc nhiều giao dịch" cộng dồn trong ngày từ mức 400 triệu đồng trở lên, nhằm đáp ứng khuyến nghị của Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF), tránh tình trạng đối tượng cố tình chia nhỏ dòng tiền nhằm “lách” ngưỡng báo cáo.

Bên cạnh đó, Dự thảo bổ sung trường hợp nhận biết khách hàng đối với tài sản mã hóa. Theo đó, khi khách hàng không có tài khoản, ví tài sản mã hóa hoặc có tài khoản, ví tài sản mã hóa nhưng không giao dịch trong thời gian 6 tháng liên tục trước đó thực hiện một giao dịch hoặc nhiều giao dịch tài sản mã hóa có tổng giá trị quy đổi tương đương 1.000 USD trở lên trong một ngày, áp dụng cho các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa (VASP). Quy định này phù hợp với khuyến nghị của FATF và khuôn khổ thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.

Cùng với nội dung về KYC, Dự thảo sửa đổi, bổ sung về tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi (CSHHL). Trong đó, một trong những trường hợp được xác định là CSHHL là: “Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của khách hàng. Đối tượng báo cáo phải rà soát từng tầng trong cấu trúc sở hữu của khách hàng để xác định CSHHL. Trường hợp nhóm cá nhân có liên quan đến nhau thông qua mối quan hệ nhân thân hoặc hợp đồng có tổng sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% vốn điều lệ hoặc 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của khách hàng, đối tượng báo cáo xác định các cá nhân trong nhóm này là CSHHL của khách hàng.

Về quy định này, các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính đã nêu lên hàng loạt thách thức kỹ thuật nếu phải thực thi. Nổi bật là quy định cộng gộp sở hữu của "nhóm cá nhân có liên quan thông qua mối quan hệ nhân thân". Các ngân hàng chỉ ra rằng thuật ngữ "nhân thân" quá rộng và chưa được định nghĩa trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền. Dữ liệu dân cư hiện nay chỉ cho phép tra cứu thông tin trong cùng một hộ gia đình, trong khi người thân đã tách hộ hoặc người nước ngoài tại các tập đoàn đa quốc gia là hoàn toàn "bất khả xâm phạm" do rào cản từ luật bảo vệ dữ liệu cá nhân của các nước.

Tiếp thu phản ánh này, NHNN đã chấp thuận đổi cụm từ "mối quan hệ nhân thân" thành "mối quan hệ gia đình" và dẫn chiếu trực tiếp theo khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp (vợ, chồng, bố mẹ, con cái, anh chị em ruột...), tạo hành lang kiểm tra rõ ràng, minh bạch cho các ngân hàng.

Đối với yêu cầu rà soát "từng tầng" trong cấu trúc sở hữu gián tiếp, trước lo ngại của các ngân hàng về tính khả thi khi thực hiện đối với các tập đoàn xuyên quốc gia phức tạp, NHNN giải thích đây là phương pháp truy xét xuyên suốt (look-through) theo khuyến nghị của FATF và OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) nhằm bóc tách đến cùng cá nhân thực sự chi phối. Bởi trên thực tế, có nhiều tổ chức có cấu trúc sở hữu phức tạp, qua nhiều tầng, lớp sở hữu trung gian. Việc rà soát từng tầng, lớp nhằm xác định đầy đủ chuỗi sở hữu, tỷ lệ sở hữu hoặc quyền biểu quyết và cá nhân thực tế ở cuối chuỗi có quyền sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng đối với khách hàng. Việc rà soát không dừng lại tại tổ chức sở hữu trực tiếp khách hàng mà phải tiếp tục qua các tổ chức hoặc thỏa thuận pháp lý trung gian cho đến khi xác định được cá nhân cuối cùng kiểm soát tổ chức.

Kết nối đầu tư