|
| Tại nhiều gói thầu mua sắm thuốc, tình trạng nhà thầu chào giá vượt giá kế hoạch đã không còn là hiện tượng cá biệt. Ảnh: Lê Tiên |
Cú sốc địa chính trị lan sang giá thuốc
Kết quả khảo sát nhanh của Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân (Ban IV) thuộc Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng từ ngày 16 - 22/3/2026 với 228 doanh nghiệp cho thấy, tác động của xung đột tại tại Trung Đông không còn dừng ở mức rủi ro tiềm ẩn mà đã chuyển hóa thành áp lực thực tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Có 62,7% doanh nghiệp đánh giá cuộc xung đột đang ảnh hưởng ở mức lớn hoặc rất lớn; 55,3% cho biết tác động đã xảy ra trên thực tế. Các ngành chịu ảnh hưởng mạnh nhất đều có liên quan trực tiếp tới chuỗi cung ứng như: nhiên liệu, vận tải, xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và chuỗi cung ứng quốc tế. Điều này cho thấy cú sốc địa chính trị tưởng như xa xôi nhưng đã và đang truyền dẫn khá nhanh vào nền kinh tế trong nước thông qua nhiều kênh, từ chi phí đầu vào cho đến đầu ra thị trường.
Chi phí đầu vào gia tăng, sản xuất kinh doanh trong nước gặp khó khăn “làm mỏng” dòng tiền và biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Có tới 87,7% doanh nghiệp cho biết họ đang chịu sức ép chi phí đầu vào tăng, trong đó 50,4% đánh giá mức tăng là mạnh. Phần lớn doanh nghiệp ghi nhận mức tăng trong khoảng 5-10%, nhưng có 18,4% cho biết chi phí tăng trên 20%. Nguyên nhân chính đến từ giá năng lượng, giá nguyên vật liệu, chi phí logistics và chi phí tài chính…
Trong lĩnh vực dược phẩm, Bộ Y tế đánh giá căng thẳng địa chính trị, đặc biệt tại khu vực Trung Đông, tiếp tục diễn biến phức tạp, có nguy cơ ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu đối với thuốc và nguyên liệu làm thuốc (vận chuyển, logistics, nguồn cung, giá thuốc), tác động đến việc bảo đảm thuốc phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh trong nước. Trong khi đó, nguyên liệu sản xuất dược phẩm (API) ở trong nước vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, khiến hệ thống dễ bị tổn thương trước các biến động bên ngoài.
Những áp lực trên đang “ngấm” vào hoạt động đấu thầu thuốc. Tại nhiều gói thầu gần đây, tình trạng nhà thầu chào giá vượt giá kế hoạch đã không còn là hiện tượng cá biệt.
Đơn cử, tại Gói thầu Mua sắm thuốc generic phục vụ điều trị tại Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ năm 2026 - 2028 (631 phần, 631 mặt hàng), 29 phần/lô có giá dự thầu chào vượt giá kế hoạch, trong đó 19 phần được chào lại giá, còn lại vẫn giữ nguyên giá chào ban đầu.
Tại gói thầu này, Công ty TNHH MTV Dược Sài Gòn có 02 phần thuốc điều trị ung thư chào vượt giá kế hoạch. Cụ thể, phần Dacarbazil (200mg, Nhóm 5) có giá chào cao hơn hàng trăm triệu đồng so với giá kế hoạch; phần/lô Tamoxifen (20mg, Nhóm 1) có giá dự thầu là 1,483 tỷ đồng, trong khi giá kế hoạch là 1,242 tỷ đồng…
Cũng liên quan đến nhóm thuốc điều trị ung thư, Công ty CP Thương mại Dược phẩm 3A có 2 phần thuốc Carboplatin đều chào vượt giá kế hoạch. Trong đó, phần Carboplatin 150mg Nhóm 2 có giá dự thầu 1,4 tỷ đồng, trong khi giá kế hoạch chỉ có 1,159 tỷ đồng; phần Carboplatin 450mg Nhóm 2 có giá dự thầu là 4,85 tỷ đồng, trong khi giá kế hoạch là 3,564 tỷ đồng. Đáng chú ý, Nhà thầu được xếp hạng 1 nhưng không điều chỉnh giá khi được chủ đầu tư yêu cầu, cho thấy dư địa giảm giá không còn trong bối cảnh chi phí đầu vào gia tăng.
Ứng phó cách nào để bảo đảm nguồn cung thuốc?
Theo lý giải của một số nhà thầu, giá kế hoạch thường được chủ đầu tư xây dựng dựa trên dữ liệu quá khứ, trong khi thị trường đang biến động rất nhanh theo diễn biến địa chính trị trên toàn cầu. Mặt bằng giá mới liên tục được xác lập nên việc giữ nguyên giá kế hoạch như trước đang và sẽ khiến cho quá trình lựa chọn nhà thầu thuốc gặp khó khăn, thậm chí dẫn đến khả năng chủ đầu tư phải huỷ thầu hoặc kéo dài thời gian mua sắm.
Nhiều nhà thầu đề xuất, việc tổ chức đàm phán giá lại đối với các gói thầu đã huỷ từ giai đoạn trước cũng cần cập nhật biến động giá thực tế, do thị trường hiện nay đã thiết lập mặt bằng giá mới, nhà thầu khó có thể cung ứng khi cầm chắc lỗ trong tay.
Trước những rủi ro từ biến động khách quan, mới đây, Bộ Y tế đưa ra một số khuyến cáo nhằm bảo đảm nguồn cung thuốc ổn định cho hệ thống y tế.
Đối với các địa phương, Bộ Y tế đề nghị UBND cấp tỉnh chỉ đạo Sở Y tế và các cơ quan liên quan theo dõi sát diễn biến thị trường, chủ động mua sắm, dự trữ thuốc và phương án điều tiết, bảo đảm cân đối cung - cầu thuốc trên địa bàn.
Đối với các cơ sở khám, chữa bệnh, Bộ Y tế yêu cầu rà soát, đánh giá tình hình sử dụng, tồn kho và khả năng cung ứng thuốc theo từng nhóm, tập trung vào: thuốc thiết yếu; thuốc cấp cứu, hồi sức tích cực; thuốc điều trị bệnh mạn tính, bệnh truyền nhiễm; thuốc phụ thuộc nguồn nhập khẩu… Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch mua sắm, dự trữ thuốc phù hợp với quy mô hoạt động và mô hình bệnh tật. Các bệnh viện cần tổ chức lựa chọn nhà thầu, mua sắm thuốc theo đúng quy định; bảo đảm chất lượng, hiệu quả và khả năng cung ứng thuốc kể cả khi nguồn cung thuốc, nguyên liệu làm thuốc bị gián đoạn. Trong đó, ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước đã được công bố đáp ứng yêu cầu điều trị, có nguồn cung ổn định để thay thế thuốc nhập khẩu có nguy cơ thiếu hụt do gián đoạn, cũng như thiết lập cơ chế cảnh báo sớm nguy cơ thiếu thuốc.
Đối với các cơ sở sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thuốc, nguyên liệu làm thuốc, Bộ Y tế khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động kế hoạch sản xuất, nhập khẩu, dự trữ; đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu và thuốc thành phẩm; hạn chế phụ thuộc vào một hoặc một số thị trường; tăng cường năng lực dự trữ, vận chuyển, phân phối; bảo đảm cung ứng liên tục, ổn định, đặc biệt đối với thuốc thiết yếu.
Trong bối cảnh chi phí tăng, Bộ Y tế nhấn mạnh, các doanh nghiệp thực hiện nghiêm quy định về quản lý giá thuốc: niêm yết giá và bán không cao hơn giá niêm yết; bán buôn thuốc kê đơn không cao hơn giá đã công bố hoặc công bố lại theo quy định; không đầu cơ, găm hàng, thao túng giá, tăng giá thuốc bất hợp lý. Trong trường hợp chi phí đầu vào tăng (nguyên liệu, thuốc nhập khẩu, vận chuyển, tỷ giá…), doanh nghiệp được khuyến khích chủ động rà soát, tiết giảm chi phí không cần thiết để góp phần bình ổn giá thuốc.
Đề xuất 7 giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp
Từ khảo sát thực tiễn, Ban IV đề xuất Chính phủ thực hiện 7 nhóm giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với tác động của cuộc xung đột, trong đó đứng đầu là ưu tiên bình ổn giá năng lượng và giảm áp lực chi phí đầu vào - giải pháp được 61,9% doanh nghiệp lựa chọn. Thứ đến là các giải pháp tài chính như hỗ trợ lãi suất, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giãn nợ, cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng ngắn hạn, đẩy nhanh hoàn thuế nhằm giúp doanh nghiệp duy trì dòng tiền…
Ban IV dẫn phản ánh của các doanh nghiệp cho rằng đang tồn tại tình trạng “tác động kép” khi khủng hoảng quốc tế diễn ra đồng thời với sự thay đổi nhanh của chính sách, quy định quản lý trong nước. Theo đó, đề xuất hệ thống pháp luật cần có tính khái quát, ổn định và nhất quán, đồng thời nâng cao chất lượng thực thi công vụ, hạn chế tình trạng sách nhiễu, quan liêu, thiếu thống nhất, tạo nền tảng ổn định nội bộ để doanh nghiệp có thể tập trung ứng phó với biến động từ bên ngoài.