|
| Dòng tiền cho doanh nghiệp có khả năng sản xuất kinh doanh là vấn đề cần được ưu tiên tháo gỡ ngay. Ảnh: Tiên Giang |
Nghị quyết 68-NQ/TW đã đi qua hơn 1 năm triển khai. Với góc nhìn từ HANOISME, ông đánh giá cộng đồng DN đã thực sự cảm nhận được những thay đổi nào?
Tôi cho rằng DN đã có thêm những điều kiện thuận lợi, nhưng mức độ “cởi trói” chưa đồng đều. Cần đánh giá kết quả bằng việc DN tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, chi phí và có tự tin đầu tư dài hạn hơn hay không.
Chuyển biến đầu tiên là định hướng quản lý đã đặt trọng tâm rõ hơn vào hỗ trợ, phục vụ và bảo vệ quyền kinh doanh hợp pháp. Tại Hà Nội, Kế hoạch 196/KH-UBND triển khai Nghị quyết 68 đã phân công nhiệm vụ theo nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả. Cách phân công này tạo cơ sở để DN theo dõi và yêu cầu giải trình về tiến độ xử lý kiến nghị.
Về thủ tục, từ ngày 1/7/2026, Hà Nội áp dụng thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ đối với nhiều thủ tục đăng ký DN theo Nghị quyết 12/2026/NQ-HĐND. Một số thành phần hồ sơ cũng được cắt giảm. Tôi đánh giá đây là bước tiến cụ thể, tạo điều kiện rút ngắn thời gian gia nhập thị trường.
Về chi phí kinh doanh, việc chấm dứt thu lệ phí môn bài từ ngày 1/1/2026 theo Nghị quyết 198/2025/QH15 là thay đổi cụ thể. Nghị quyết cũng quy định hạn chế thanh tra, kiểm tra và tránh trùng lặp cùng nội dung, với ngoại lệ khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng. Đây là những cơ sở pháp lý giúp DN yên tâm hơn.
Tuy nhiên, có chính sách thuận lợi chưa đồng nghĩa mọi DN đã được thụ hưởng đầy đủ. Tôi đánh giá cao hướng cải cách, đồng thời mong muốn chuyển biến ấy đến được từng hồ sơ, từng cán bộ thực thi. Niềm tin sẽ bền vững khi DN biết hồ sơ đang ở đâu, ai chịu trách nhiệm và khi nào nhận kết quả.
9 tháng đầu năm nay có trên 170.000 DN rút khỏi thị trường cho thấy môi trường kinh doanh còn nhiều khó khăn. Theo ông, đâu là những "điểm nghẽn" cốt lõi?
Theo tôi, 3 điểm nghẽn cần tập trung xử lý là khả năng tiếp cận nguồn lực, sự thiếu liên thông trong thực thi và năng lực hấp thụ chính sách của DN.
Với nguồn lực, vốn phải đi cùng mặt bằng và thị trường. DN có đơn hàng nhưng thiếu vốn lưu động sẽ khó thực hiện hợp đồng; có vốn nhưng chưa hoàn tất thủ tục nhà xưởng cũng khó mở rộng sản xuất. Các vướng mắc này tác động dây chuyền, khiến cơ hội thị trường trôi qua trong thời gian chờ đợi.
Một quy định đáng rà soát là Khoản 3 Điều 19 Nghị định số 34/2018/NĐ-CP: giới hạn bảo lãnh vay vốn lưu động của quỹ bảo lãnh tín dụng không vượt vốn chủ sở hữu của khách hàng thể hiện tại báo cáo tài chính của DN nộp cơ quan quản lý thuế năm trước liền kề. Theo tôi, giới hạn này có thể gây khó cho DN đang tăng trưởng nhưng vốn tích lũy còn mỏng, dù có đơn hàng và dòng tiền dự kiến tốt. Bên cạnh việc đáp ứng yêu cầu bảo toàn vốn, cần đánh giá cả dòng tiền tương lai, chất lượng đơn hàng, khả năng trả nợ; đồng thời thiết kế cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp.
Điểm nghẽn thứ hai nằm ở các thủ tục liên quan nhiều cơ quan: đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường. DN cần một quy trình nối tiếp rõ ràng; nếu từng khâu chờ nhau, tổng thời gian thực hiện vẫn kéo dài dù từng thủ tục đã được rút gọn.
Thứ ba là năng lực quản trị. DN nhỏ thường khó bố trí nhân sự chuyên trách về pháp lý, tài chính và công nghệ. Theo tôi, một chính sách yêu cầu hồ sơ phức tạp sẽ khó đến được nhóm cần hỗ trợ nhất. Vì vậy, tháo gỡ phải đồng thời cải thiện quy định, cách thực thi và khả năng đáp ứng của DN.
Theo ông, cần những “cú hích” nào để DNNVV thoát khỏi quy mô siêu nhỏ, vươn tầm tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu?
Muốn DN “lớn lên”, cần giúp họ tăng năng suất, làm chủ công nghệ và có đơn hàng giá trị cao hơn. Tôi đề xuất 3 “cú hích” gắn chặt với nhau.
Thứ nhất, hỗ trợ đổi mới công nghệ theo bài toán sản xuất cụ thể. TP. Hà Nội có thể nghiên cứu cơ chế đồng tài trợ hoặc phiếu hỗ trợ để DN thuê chuyên gia, kiểm định sản phẩm, cải tiến dây chuyền, ứng dụng phần mềm quản trị. DN lựa chọn nhà cung cấp đủ năng lực; hỗ trợ được giải ngân theo kết quả xác minh. Kết quả cần đo bằng tỷ lệ lỗi giảm, thời gian giao hàng rút ngắn, năng suất tăng hoặc sản phẩm đạt tiêu chuẩn của khách hàng. Với cơ sở nhỏ, một cải tiến đúng công đoạn có thể hiệu quả hơn đầu tư đồng loạt khi chưa chuẩn bị đủ nhân lực.
Thứ hai, kết hợp ưu đãi thuế với vốn đầu tư phù hợp. Nghị quyết 198/2025/QH15 đã quy định chi phí nghiên cứu và phát triển được tính vào chi phí, được trừ bằng 200% chi phí thực tế theo quy định. Cần giúp DN xác định đúng hoạt động đủ điều kiện và hoàn thiện chứng từ để sử dụng được chính sách. Tuy vậy, ưu đãi thuế khó giải quyết ngay nhu cầu tiền đầu tư ban đầu của DN chưa có lợi nhuận. Vì thế, cần phát triển cho thuê tài chính, bảo lãnh tín dụng và nguồn vốn dài hạn cho đổi mới công nghệ, kèm thẩm định hiệu quả dự án.
Thứ ba, tổ chức chương trình phát triển nhà cung ứng cho các tập đoàn trong nước và DN FDI. Mỗi DN tham gia cần được đánh giá về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, môi trường, quản trị và tiến độ giao hàng; được hỗ trợ khắc phục theo yêu cầu của bên mua.
HANOISME có thể làm đầu mối kết nối DN, ngân hàng, viện nghiên cứu và trường đào tạo. Sự hỗ trợ cần theo đến giai đoạn làm mẫu, đánh giá và ký hợp đồng.
Từ thực tiễn tại Thủ đô, ông đề xuất những giải pháp nào để Nghị quyết 68 sớm đi vào đời sống? Nếu chọn vấn đề “nóng” cần xử lý ngay thì đó là gì?
Tôi đề xuất 4 nhóm chính sách ưu tiên. Trước hết là tập trung giải quyết vướng mắc. Hà Nội cần có cơ chế theo dõi kiến nghị thống nhất, mỗi vụ việc gắn với một đầu mối chủ trì, thời hạn và kết quả xử lý. Vấn đề thuộc thẩm quyền Thành phố phải giải quyết dứt điểm; vấn đề vượt thẩm quyền phải được tổng hợp thành kiến nghị, nêu rõ quy định cần sửa.
Thứ hai, khơi thông dòng tiền cho DN có khả năng sản xuất kinh doanh. Cần xử lý đúng hạn hồ sơ hoàn thuế đủ điều kiện, thanh toán khối lượng đã nghiệm thu và cải thiện tiếp cận vốn lưu động. Ngân hàng, quỹ hỗ trợ và hiệp hội nên phối hợp chuẩn hóa hồ sơ tài chính, đánh giá đơn hàng và lựa chọn phương án tài trợ phù hợp.
Thứ ba, làm rõ khả năng tiếp cận mặt bằng. DN cần biết địa điểm nào có thể thuê, quy mô diện tích, hạ tầng, giá và điều kiện hưởng hỗ trợ. Cần phối hợp xử lý các thủ tục để cơ sở đủ điều kiện sớm đi vào hoạt động.
Thứ tư, đánh giá chính sách bằng kết quả phát triển DN. Ngoài số DN thành lập mới, cần theo dõi tỷ lệ DN mở rộng quy mô, tăng năng suất, đổi mới công nghệ và tham gia chuỗi cung ứng. HANOISME có thể góp phần thu thập phản hồi và đề xuất điều chỉnh.
Nếu chọn vấn đề cần xử lý ngay, tôi chọn dòng tiền và những hồ sơ đang chặn hoạt động sản xuất. Tôi đề nghị tổ chức một đợt xử lý tập trung trong 90 ngày tới: rà soát theo từng nhóm DN, giải quyết các trường hợp đủ điều kiện, công khai tiến độ và trách nhiệm đối với hồ sơ chậm.
DN sẽ cảm nhận rõ hiệu quả từ Nghị quyết 68 khi có thể dành nhiều thời gian hơn cho sản xuất, giữ được đơn hàng và chủ động đầu tư cho tương lai. Đó là thước đo trực tiếp của hiệu quả cải cách.