|
Thưa ông, năm 2025 đánh dấu giai đoạn quyết liệt của công cuộc sắp xếp, kiện toàn bộ máy Nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Để đáp ứng tốt yêu cầu thực tế, quá trình triển khai nâng cấp Hệ thống phải đối diện với những thách thức gì?
2025 là năm có nhiều biến động và thách thức rất lớn với Hệ thống để thích ứng kịp thời với sự thay đổi về chính sách pháp luật cũng như thay đổi chung đối với cả hệ thống chính trị, các bộ, ban, ngành, đoàn thể và chính quyền địa phương.
Trước yêu cầu thực tiễn, việc đầu tiên chúng tôi phải làm ngay, đó là điều chỉnh, cập nhật kịp thời các thông tin về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, vai trò của các chủ thể tham gia đấu thầu trên Hệ thống để thích ứng khi mô hình tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính thay đổi. Điều này đòi hỏi Hệ thống không chỉ thay đổi về mặt kỹ thuật mà còn phải bám sát các quy định pháp luật, bảo đảm phân quyền, phân cấp đúng và thống nhất.
Trong quá trình chuyển đổi, áp lực rất lớn đặt ra cho chúng tôi là việc chuẩn hóa và làm sạch dữ liệu, bảo đảm kế thừa đầy đủ dữ liệu lịch sử, không để xảy ra gián đoạn hoạt động đấu thầu. Việc tổ chức đào tạo, hướng dẫn, nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ, nhân viên trong thời điểm có nhiều thay đổi cả về tổ chức hành chính lẫn hệ thống công nghệ cũng là một thách thức không nhỏ.
Song, với tinh thần “chỉ bàn làm không bàn lùi”, chúng tôi xác định, đây cũng chính là cơ hội để Hệ thống chứng minh được tính linh hoạt, là dịp để nâng cấp toàn diện hơn, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Qua đó, tạo nền tảng ổn định cho việc vận hành lâu dài và tiếp tục mở rộng, liên thông với các hệ thống thông tin quốc gia khác.
Với sự nỗ lực và quyết tâm cao, đến nay, Hệ thống đã được kết nối liên thông và chia sẻ dữ liệu với hệ thống thông tin khác. Xin ông có thể nói rõ hơn về sự thay đổi này?
Có thể coi đây là một bước tiến rất quan trọng trong năm 2025 của Hệ thống, khi việc triển khai kết nối được ứng dụng thực tế vào nghiệp vụ thanh toán điện tử, bảo lãnh điện tử. Sau khi Hệ thống liên thông dữ liệu với hệ thống quản lý ngân sách và kho bạc đã hình thành một quy trình đầy đủ, từ khâu quản lý kế hoạch lựa chọn nhà thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu, ký kết và quản lý hợp đồng cho đến giải ngân và quyết toán.
Nhờ chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực, các cơ quan quản lý có thể theo dõi sát sao tình hình sử dụng ngân sách, hạn chế tình trạng chậm giải ngân hoặc sai lệch thông tin giữa các hệ thống. Đồng thời, chủ đầu tư và nhà thầu cũng giảm được đáng kể các thủ tục hành chính, chi phí, tránh việc sai sót thông tin trong từng giai đoạn, từ đó nâng cao hiệu quả trong quản lý đầu tư công.
Hệ thống cũng liên kết với các ngân hàng để triển khai rộng rãi bảo lãnh điện tử, bên cạnh việc số hóa quy trình, giảm thiểu thủ tục, thời gian. Công tác này giúp nhà thầu hạn chế tối đa sai sót khi Hệ thống tự động trích xuất các yêu cầu của bảo lãnh dự thầu (như giá trị, thời hạn, đơn vị thụ hưởng…) vào đơn đề nghị cấp bảo lãnh và truyền cho ngân hàng để cấp bảo lãnh dự thầu điện tử. Thời gian tới, Hệ thống sẽ bổ sung thêm các loại bảo lãnh điện tử khác như bảo lãnh tạm ứng, cam kết tín dụng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo hành.
Một trong những nội dung được dư luận quan tâm là việc Hệ thống mở rộng áp dụng hợp đồng điện tử. Hiệu quả của việc mở rộng này ra sao, thưa ông?
Việc mở rộng mang tính bắt buộc áp dụng hợp đồng điện tử đối với hợp đồng của gói thầu đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh, chào giá trực tuyến, mua sắm trực tuyến mà việc thanh toán hợp đồng được thực hiện qua Kho bạc Nhà nước. Hệ thống không chỉ đáp ứng phạm vi bắt buộc này mà tất cả các hợp đồng của gói thầu có hình thức, phương thức khác cũng có thể thực hiện ký hợp đồng điện tử trên Hệ thống. Việc mở rộng này là cải tiến rất đáng ghi nhận, giúp rút ngắn thời gian ký kết, giảm chi phí in ấn, lưu trữ và đặc biệt là nâng cao tính pháp lý, an toàn thông tin nhờ các cơ chế xác thực, ký số. Đối với các gói thầu không qua mạng, việc áp dụng hợp đồng điện tử cũng tạo sự thống nhất trong quản lý, giúp cơ quan quản lý dễ dàng theo dõi, kiểm tra và hậu kiểm khi cần thiết.
Xin ông cho biết mục đích việc nâng cấp giao diện và menu chức năng của phân hệ đấu thầu điện tử trên Hệ thống vừa qua?
Việc nâng cấp giao diện và menu chức năng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của các chủ thể tham gia đấu thầu và qua việc chúng tôi tham khảo quy trình nghiệp vụ số của một vài hệ thống tiên tiến trên thế giới. Giao diện được thiết kế theo hướng trực quan, dễ thao tác hơn, các menu chức năng được sắp xếp lại logic, bố cục lại theo quy trình, giúp người dùng nhanh chóng hình dung rõ các bước và tiến trình thực hiện cho từng gói thầu.
Không chỉ cải thiện trải nghiệm người dùng, việc nâng cấp còn góp phần giảm sai sót trong quá trình thao tác, đặc biệt đối với các đơn vị, địa phương có tần suất sử dụng hệ thống chưa cao. Qua đó, hiệu quả triển khai đấu thầu điện tử được nâng lên rõ rệt, tạo nền tảng thuận lợi để Hệ thống tiếp tục tích hợp thêm các chức năng mới trong thời gian tới.
Những đợt nâng cấp Hệ thống trong năm 2025 tác động thế nào đến các chủ đầu tư và nhà thầu, thưa ông?
Bổ sung tiện ích là công tác cần thiết phải thực hiện thường xuyên, chúng tôi thực hiện kế hoạch định kỳ khảo sát đánh giá từ người dùng. Tôi nghĩ việc lắng nghe, phân tích phản ánh từ người dùng, chọn lọc các đóng góp từ thực tiễn chính là mấu chốt để dần hoàn thiện Hệ thống. Các thay đổi tích cực từ việc nâng cấp Hệ thống sẽ góp phần hình thành môi trường đấu thầu công khai, cạnh tranh và hiệu quả hơn, tạo niềm tin cho cả chủ đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp.
Các đợt nâng cấp của Hệ thống đã tạo ra những chuyển biến rõ nét trong thực tiễn triển khai đấu thầu. Đối với chủ đầu tư, Hệ thống ngày càng hỗ trợ tốt hơn trong việc lập, phê duyệt và quản lý công việc trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, ký kết và theo dõi thực hiện hợp đồng. Đối với nhà thầu, những nâng cấp này giúp việc tiếp cận thông tin gói thầu trở nên thuận lợi, minh bạch và đồng bộ hơn. Nhà thầu có thể dễ dàng tra cứu, chuẩn bị hồ sơ dự thầu, ký kết hợp đồng điện tử và theo dõi toàn bộ quá trình tham gia đấu thầu trên môi trường số. Qua đó giảm chi phí tuân thủ, mở rộng cơ hội tham gia thị trường đấu thầu, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Một hình thức lựa chọn nhà thầu gần đây được chú ý và có tính ứng dụng rất cao đó là chào giá trực tuyến theo quy trình rút gọn, ông có thể chia sẻ thêm về hình thức này?
Cho phép tôi gọi hình thức này với cái tên dễ hình dung ra quy trình, đó là “Đấu giá ngược”. Việc quản lý quá trình đấu giá không phải đơn giản khi phải đảm bảo các yếu tố thời gian thực, cập nhật và công khai liên tục về danh sách xếp hạng, cũng như các yếu tố công bằng cho nhà thầu khi đấu giá. Hệ thống thời gian qua phải sửa đổi để phù hợp với quá trình cạnh tranh về giá cho quy trình này, và khi ổn định, pháp lý cũng đã điều chỉnh để mở rộng áp dụng cho hình thức mới. So với quy định cũ, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP đã mở rộng thêm lĩnh vực xây lắp và nâng hạn mức chào giá trực tuyến rút gọn lên cao hơn, cụ thể là không quá 2 tỷ đồng đối với dự toán mua sắm và không quá 5 tỷ đồng đối với dự án.
Theo thống kê trên Hệ thống, có 6.800 gói thầu áp dụng hình thức chào giá trực tuyến rút gọn trong năm 2025, nhiều gói thầu có sự cạnh tranh lớn, tỷ lệ giảm giá cao, thời gian lựa chọn nhà thầu được rút ngắn. Điều này cho thấy tính phù hợp của hình thức này với nhu cầu thực tiễn, giải quyết được bài toán mua được đúng sản phẩm, dịch vụ theo yêu cầu cụ thể, thúc đẩy sự cạnh tranh về giá, đem lại hiệu quả cao.
Năm 2026 được xem là khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới của đất nước, ông kỳ vọng gì vào sự bứt phá của Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia?
Với định hướng tiếp tục kết nối, liên thông sâu rộng với các hệ thống thông tin quốc gia, lấy người sử dụng làm trung tâm và bảo đảm công khai, minh bạch, Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia chắc chắn sẽ trở thành một trong những nền tảng cốt lõi, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong hoạt động đấu thầu ở Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn ông!