GDP quý I/2026 tăng trưởng thấp hơn kịch bản: Phép thử “biến nguy thành cơ”

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng từ cuộc xung đột ở Trung Đông là một trong những nội dung sẽ được Quốc hội thảo luận tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI. Theo bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng Ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) thì đây là phép thử “biến nguy thành cơ”.

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số năm 2026, GDP quý II phải tăng gần 11%. Ảnh: Song Lê
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số năm 2026, GDP quý II phải tăng gần 11%. Ảnh: Song Lê
51.jpg

GDP quý I/2026 tăng 7,83%, thấp hơn kịch bản đặt ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP (tăng 9,1%). Theo bà, quý II phải tăng bao nhiêu thì cả năm mới tăng tối thiểu 10%?

Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, các đại biểu sẽ thảo luận về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Để kịp thời thông tin cho các đại biểu Quốc hội và phục vụ công tác điều hành của Chính phủ nhiệm kỳ mới, Cục Thống kê đã xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế cho quý II trong bối cảnh GDP quý I chỉ tăng 7,83% và bất ổn ở Trung Đông ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, kiểm soát lạm phát...

Theo tính toán của Cục Thống kê, để bù đắp phần thiếu hụt của quý I và hướng tới mục tiêu tăng trưởng cả năm 2 con số thì GDP quý II phải tăng gần 11%. Kịch bản này kỳ vọng dựa trên sự tăng tốc của xuất khẩu, phục hồi mạnh mẽ của sức mua nội địa, cùng với đóng góp ngày càng rõ nét của các lĩnh vực kinh tế mới như công nghệ bán dẫn và kinh tế xanh… Ngoài ra, xung đột Trung Đông sớm chấm dứt và giá dầu bình ổn trở lại là điều kiện cần để bảo đảm tăng trưởng kinh tế có thể tiệm cận mục tiêu đặt ra.

Quý II cần tăng trưởng gần 11%, liệu đây là mục tiêu thách thức?

Muốn tăng trưởng 2 con số thì 3 quý còn lại của năm nay, quý nào cũng phải tăng trưởng gần 11%. Đây mục tiêu đầy thách thức và mang tính lịch sử, nhưng nếu các động lực tăng trưởng được kích hoạt mạnh mẽ và đồng bộ, chúng ta vẫn có cơ sở để bám sát mục tiêu tăng trưởng đã đề ra. Trong bối cảnh xuất khẩu gặp khó khăn do khủng hoảng Trung Đông (chi phí logistics và năng lượng tăng, rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng), để đạt được mức tăng trưởng cao như vậy, cần một gói giải pháp đồng bộ, nhấn mạnh vào các động lực trong nước và giảm thiểu tác động từ bên ngoài.

Thứ nhất, tổng cầu trong nước phải trở thành trụ cột bù đắp cho xuất khẩu. Cần kích thích tiêu dùng thông qua giảm thuế, phí có mục tiêu, thúc đẩy du lịch, dịch vụ và mở rộng các chương trình khuyến khích tiêu dùng nội địa. Song song đó, phải tăng tốc giải ngân đầu tư công, đặc biệt ở các dự án hạ tầng giao thông, năng lượng và chuyển đổi số, vì đây là kênh lan tỏa nhanh nhất sang tăng trưởng.

Thứ hai, ổn định chi phí đầu vào cho doanh nghiệp là yếu tố then chốt. Nhà nước cần chủ động điều hành giá xăng dầu linh hoạt, sử dụng quỹ bình ổn và đa dạng hóa nguồn cung năng lượng để hạn chế “sốc chi phí đẩy”. Đồng thời, có thể xem xét các chính sách hỗ trợ chi phí logistics, vận tải hoặc tín dụng ngắn hạn cho doanh nghiệp xuất khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp.

Thứ ba, duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu trong điều kiện khó khăn. Cần tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do (FTA), đẩy mạnh xúc tiến thương mại sang các thị trường còn dư địa như Trung Đông (ngoài khu vực xung đột), Nam Á, châu Phi và ASEAN; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng để giữ đơn hàng.

Thứ tư, ổn định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính. Điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát do giá năng lượng tăng; bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế, giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp nhưng không gây áp lực lớn lên tỷ giá.

Và cuối cùng, cần nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, bao gồm đa dạng hóa nguồn nhập khẩu nguyên vật liệu, tăng dự trữ chiến lược, đặc biệt là năng lượng, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng rất cao trong quý II (gần 11%), trong khi xuất khẩu chịu ảnh hưởng bất lợi, Việt Nam buộc phải chuyển trọng tâm sang các động lực nội địa, ổn định chi phí và giữ vững chuỗi cung ứng, đồng thời linh hoạt ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài.

Theo bà, nền kinh tế có cơ hội gì giữa áp lực về năng lượng hiện nay?

Tương tự cơ hội đẩy mạnh chuyển đổi số giai đoạn bùng phát đại dịch Covid-19, nhìn từ góc độ kiến tạo, bối cảnh giá năng lượng hóa thạch tăng cao hiện nay chính là một cú hích, cơ hội vàng để nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam quyết liệt thực hiện công cuộc “chuyển đổi xanh” và tự chủ năng lượng. Sự đắt đỏ của giá dầu buộc chúng ta phải bước ra khỏi vùng an toàn và giảm sự phụ thuộc vào các nguồn nhiên liệu truyền thống. Có thể nói, đây chính là một "bài kiểm tra" khắc nghiệt nhưng cần thiết. Những doanh nghiệp và địa phương nào biết tận dụng sức ép này để thay đổi cấu trúc năng lượng, áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng và xanh hóa sản xuất, thì chắc chắn sẽ tạo ra được kháng thể mạnh mẽ để bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Bà nhìn nhận như thế nào về khả năng Việt Nam sẽ vượt qua “bài kiểm tra” khắc nghiệt hiện hữu?

Việt Nam đã vượt qua đại dịch Covid-19 một cách ngoạn mục khi tốc độ tăng trưởng GDP thuộc hàng cao nhất thế giới. Chúng ta đã có kinh nghiệm biến nguy thành cơ và tôi tin sẽ vượt qua sóng gió từ xung đột ở Trung Đông. Thực tế đã chứng minh, tháng 3/2026 (tháng diễn ra chiến sự ở Trung Đông), tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 93,55 tỷ USD, tăng hơn 39% so với tháng trước và tăng gần 24% so với tháng 3/2025. Nhờ đó, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa quý I/2026 tăng 23%, trong đó xuất khẩu tăng trên 19%, vượt mục tiêu đặt ra là tăng 16 - 17%.

CPI quý I/2026 vẫn trong tầm kiểm soát (tăng 3,51%) nhờ việc điều hành giá xăng dầu linh hoạt, kết hợp với các chính sách giảm thuế và sử dụng Quỹ bình ổn, phần nào “giảm sốc” cho thị trường. Nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước dồi dào, thậm chí giá còn có xu hướng giảm trong một số thời điểm, nên đã bù trừ phần tăng từ nhóm năng lượng. Ngoài ra, tác động lan tỏa từ giá xăng dầu sang các nhóm khác vẫn chưa diễn ra trên diện rộng. Vì vậy, dù áp lực từ giá năng lượng là rất rõ, nhưng nhờ các yếu tố điều hành và cung cầu trong nước, mặt bằng giá chung vẫn được giữ trong tầm kiểm soát.

Kết nối đầu tư