|
| Cùng với thể chế và chuyển đổi số, nguồn nhân lực, đầu tư phát triển hạ tầng tiếp tục được xác định là một trong những trụ cột để thúc đẩy tăng trưởng, tạo xung lực mới cho nền kinh tế. Ảnh: Lê Chiến Khôi |
Trước thềm Xuân Bính Ngọ, Báo Đấu thầu xin giới thiệu góc nhìn của một số doanh nghiệp, doanh nhân chia sẻ khát vọng phát triển và hiến kế cho đất nước ngày càng phồn vinh.
Tạo “đường băng” cho kinh tế tư nhân dẫn dắt đổi mới
Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch Tập đoàn Công nghệ CMC
Nghị quyết 57-NQ/TW khẳng định phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định cho sự phát triển của quốc gia, là điều kiện tiên quyết để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới. Tôi cho rằng, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo như một “động cơ” dài hạn là lựa chọn chiến lược cần được kiên định và thúc đẩy mạnh mẽ.
Theo tôi, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ là “khẳng định vai trò”, mà là thiết kế cơ chế để khu vực tư nhân thực sự được trao không gian và điều kiện dẫn dắt các làn sóng đổi mới. Thực tiễn cho thấy, khi doanh nghiệp tư nhân có năng lực, có khát vọng và có sự chuẩn bị bài bản, họ không đi sau mà có thể đi trước và dẫn dắt thị trường. Vì vậy, “tạo đường băng” cho kinh tế tư nhân không thể dừng ở khuyến khích chung chung, mà cần cụ thể hóa bằng cơ chế đủ mạnh để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn, dám chịu trách nhiệm, dám cam kết kết quả.
Về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế số, Việt Nam cần tiếp tục rà soát để tìm ra điểm nghẽn và điều chỉnh nhằm tăng sức cạnh tranh. Theo tôi, cơ chế, chính sách cần được xây dựng dựa trên nguyên tắc minh bạch, ổn định, dự báo được để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Tiếp đó là khuyến khích theo kết quả với việc hỗ trợ gắn với đầu ra (năng lực công nghệ, sản phẩm, thị trường, năng suất...). Và thị trường hóa cơ hội đổi mới với việc tăng cơ chế đặt hàng/đặt bài toán, mua sắm công và thử nghiệm để tạo “cầu” cho sản phẩm công nghệ Việt.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh mô hình 3 nhà: Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Trên thực tế, công nghệ lõi đòi hỏi đầu tư dài hạn, chi phí lớn, rủi ro cao, do đó, doanh nghiệp cần sẵn sàng chia sẻ rủi ro theo tinh thần kinh tế thị trường, đồng thời kiến nghị cơ chế phù hợp để đồng đầu tư và nhân rộng các lĩnh vực chiến lược. Nhà nước tạo thể chế, đặt bài toán quốc gia, cơ chế dữ liệu - hạ tầng - mua sắm công, đánh giá theo kết quả. Nhà trường bảo đảm chất lượng đào tạo, nghiên cứu ứng dụng, chuẩn đầu ra gắn với nhu cầu thị trường. Khi ba “nhà” vận hành theo tinh thần đồng kiến tạo, chúng ta sẽ có hệ sinh thái đổi mới vừa có chiều sâu nghiên cứu, vừa có năng lực triển khai và thương mại hóa.
Phát triển không gian mới để giảm áp lực chi phí đất đai, dành vốn nhiều hơn cho sản xuất
Ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBS)
Muốn tăng trưởng bền vững không chỉ cần nhiều vốn, mà quan trọng hơn là để dòng vốn chảy nhanh, chảy đúng chỗ và được dẫn dắt bởi một tầm nhìn đủ lớn.
Thực tế cho thấy, nguồn tiền từ đầu tư công, khu vực tư nhân và người dân hiện đã dồi dào hơn trước rất nhiều. Tuy nhiên, tốc độ quay vòng vốn còn chậm. Đơn cử một dự án phải mất 2 - 3 năm để hoàn tất thủ tục, thì tiền đền bù, giải phóng mặt bằng gần như “nằm im” suốt thời gian đó, không tạo ra giá trị gia tăng nào.
Điều đáng mừng là những điểm nghẽn này đã được Chính phủ và nhiều địa phương nhận diện rõ và có những chỉ đạo rất quyết liệt để gỡ vướng. Chỉ trong thời gian ngắn, hàng trăm dự án đã được tháo gỡ, cấp phép nhanh hơn, giúp dòng tiền luân chuyển mạnh mẽ hơn. Vì vậy, rút ngắn quy trình thủ tục hành chính, đẩy nhanh phê duyệt dự án chính là cách trực tiếp nhất để tăng tốc độ quay vòng vốn cho nền kinh tế.
Ở bình diện quốc tế, thế giới hiện có rất nhiều quỹ đầu tư khổng lồ, quản lý hàng chục tỷ USD. Các quỹ này thường chỉ “xuống tiền” với những đại dự án có quy mô vài chục tỷ USD trở lên. Đổi lại, chi phí vốn rất thấp, có thể chỉ từ 2 - 4%, thấp hơn nhiều so với các nguồn vay nhỏ lẻ.
Muốn thu hút được dòng vốn lớn và rẻ, điều kiện tiên quyết là quy hoạch phải đủ tầm. Việc các địa phương, bộ, ngành đang rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch sau sắp xếp đơn vị hành chính, triển khai mô hình chính quyền hai cấp là một tín hiệu tích cực, cho thấy tư duy phát triển đã thay đổi. Điển hình như Hưng Yên đang thuê tư vấn quốc tế Boston Consulting Group lập quy hoạch tổng thể. Khi mở rộng không gian phát triển sau sáp nhập Hưng Yên và Thái Bình, thậm chí tính tới các khu thương mại tự do hàng chục nghìn héc ta, dư địa tăng trưởng sẽ được mở ra rất lớn. Phát triển không gian mới sẽ giúp giảm áp lực chi phí đất đai, để dòng vốn được dành nhiều hơn cho sản xuất, xây dựng nhà máy, từ đó tạo ra giá trị thực.
Cần đánh giá các dự án tư nhân đầu tư, xây dựng các “sếu đầu đàn” dẫn dắt ngành xây dựng
Ông Hồ Minh Hoàng, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đèo Cả
Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân là một đòn bẩy chính sách kịp thời, mang tính đột phá và mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp phát triển. Với tập thể Đèo Cả, niềm vui lớn nhất của chúng tôi vẫn là được cống hiến những giá trị bền vững cho nhân dân và đất nước. Chúng tôi luôn tự hào và sẽ theo đuổi bộ ba giá trị cốt lõi của mình là “khát vọng, kiên định và tri ân” kết hợp với tư duy "nghĩ khác biệt, tạo cách biệt" - đó chính là cách chúng tôi tạo nên sự đột phá.
Thời gian tới, đầu tư phát triển hạ tầng được xác định là 1 trong 3 trụ cột để phát triển đất nước. Theo đó, Đèo Cả đã hoạch định chiến lược mở rộng quy mô đầu tư và chuẩn bị triển khai loạt dự án hạ tầng trọng điểm. Cụ thể, chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư hạ tầng giao thông chiến lược (cao tốc, hầm), mở rộng sang lĩnh vực đường sắt và đô thị thông minh, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hợp tác quốc tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và áp dụng mô hình tài chính liên kết, quản trị hiệu quả để tạo đột phá hạ tầng, thúc đẩy kinh tế - xã hội.
Đèo Cả không ngại khi “dấn thân” hoặc khi được giao triển khai các dự án khó. Chúng tôi hiểu rằng, làm việc khó không có nghĩa là làm bừa, mà phải tính toán cụ thể, "nghĩ được - làm được". Chúng tôi đã chứng minh năng lực này qua chuỗi hầm tại miền Trung, sáng tạo mô hình huy động vốn PPP++ cho các dự án cao tốc đi qua khu vực khó khăn, và đặc biệt là làm chủ công nghệ thi công hầm NATM hệ Đèo Cả. Điều này không chỉ giúp chúng tôi triển khai thành công dự án Quảng Ngãi - Hoài Nhơn, mà còn tạo cơ sở để chia sẻ, chuyển giao công nghệ cho các đối tác khác. Chính những giá trị này đã giúp chúng tôi góp phần quan trọng vào việc hoàn thành mục tiêu xây dựng 3.000 km cao tốc trong năm 2025 và sẽ tiếp tục để lại dấu ấn rõ nét trên bản đồ phát triển hạ tầng giao thông quốc gia thời gian tới.
Tôi mong rằng, Chính phủ sẽ tiếp tục tạo niềm tin cho doanh nghiệp kiên định đồng hành, nỗ lực góp sức phát triển đất nước. Trong lĩnh vực xây dựng, cần đánh giá nghiêm túc các dự án của tư nhân đầu tư về giá trị đầu tư, chất lượng, tiến độ thi công, chi phí… so với các dự án của khối Nhà nước và để chọn lọc các doanh nghiệp làm tốt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trở thành các “sếu đầu đàn” của ngành, dìu dắt các doanh nghiệp khác cùng phát triển.
Chúng tôi cũng đề nghị đơn giá, định mức kinh tế - kỹ thuật trong xây dựng các dự án hạ tầng cần được cập nhật và sửa đổi phù hợp với thực tế thị trường, giúp doanh nghiệp giảm chi phí phát sinh không phù hợp và tập trung cho mục tiêu phát triển bền vững.
Nhà nước cần phát huy vai trò kiến tạo phát triển, thay vì chỉ tập trung vào quản lý và kiểm soát
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA)
Thực tiễn cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân đang đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, tạo ra đa số việc làm cho xã hội và giữ vai trò chủ lực trong nhiều ngành kinh tế. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp phản ánh rằng, họ vẫn gặp nhiều khó khăn do hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, thủ tục hành chính còn phức tạp, chi phí tuân thủ cao và rủi ro pháp lý lớn. Những khó khăn hiện hữu của doanh nghiệp cho thấy, thực tế diễn ra chưa đúng với tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW, đó là tạo mọi điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh và bền vững.
Trong lĩnh vực bất động sản, khi các dự án bị ách tắc do vướng mắc pháp lý về đất đai, đầu tư, quy hoạch, không chỉ doanh nghiệp bị ảnh hưởng mà còn tác động dây chuyền đến thị trường lao động, tài chính, vật liệu xây dựng và cả nền kinh tế. Do đó, việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp cần được coi là ưu tiên hàng đầu để đưa Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân đi vào cuộc sống.
Để khu vực kinh tế tư nhân vươn lên, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, minh bạch, ổn định, trong đó đặc biệt chú trọng tính thống nhất của hệ thống pháp luật và trách nhiệm thực thi của bộ máy hành chính. Nhà nước cần phát huy vai trò kiến tạo phát triển, đồng hành cùng doanh nghiệp, thay vì chỉ tập trung vào quản lý và kiểm soát.
Chính sách vốn, tín dụng cần được điều hành linh hoạt, có trọng tâm, ưu tiên các dự án khả thi, có đóng góp thực chất cho phát triển kinh tế - xã hội, tránh áp dụng các biện pháp siết chặt mang tính cào bằng.
Về phần mình, các doanh nghiệp tư nhân cần quán triệt tinh thần Nghị quyết bằng hành động cụ thể: nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính, tuân thủ pháp luật và đề cao trách nhiệm xã hội. Khi quyết sách của Đảng được thể chế hóa đầy đủ và thực thi nhất quán, khu vực tư nhân sẽ có sức bật để xứng đáng là động lực quan trọng góp phần đưa nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng cao, mở cơ hội lớn cho nhà thầu đồng hành, phát triển
Ông Đặng Văn Long, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Lilama 10
Trong bối cảnh hoạt động đấu thầu ngày càng được siết chặt theo hướng minh bạch, cạnh tranh và hiệu quả, uy tín và năng lực thực chất đang trở thành yếu tố quyết định vị thế của các nhà thầu trên thị trường. Đây cũng chính là con đường mà Công ty CP Lilama 10 kiên định theo đuổi để xây dựng thương hiệu và từng bước vươn xa trong hành trình phát triển.
Chúng tôi tâm niệm, điều quan trọng nhất với nhà thầu, đặc biệt là nhà thầu lắp máy chính là uy tín, thương hiệu doanh nghiệp. Nhưng xây dựng uy tín, thương hiệu nhà thầu là quá trình cần sự nỗ lực thường xuyên, bền bỉ.
Đất nước ta đang tiếp tục triển khai nhiều dự án năng lượng lớn, đáp ứng nhu cầu điện tăng cao cho tăng trưởng GDP 2 con số, sẽ có nhiều cơ hội công việc cho các nhà thầu, nhất là các nhà thầu có thương hiệu, năng lực tốt. Việc thi công đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hạn chế phát sinh tranh chấp được xem là “thước đo” rõ nhất cho năng lực thực tế của nhà thầu.
Chúng tôi quan niệm uy tín, thương hiệu chính là “chìa khóa vàng”, “giấy thông hành” để tiến bước, vươn xa. Đặc biệt, với nhà thầu cơ khí thì con người chính là “vũ khí” cạnh tranh. Theo đó, cần tập trung đầu tư xây dựng đội ngũ vững vàng bằng việc không ngừng đào tạo, nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động; xây dựng cơ chế đãi ngộ, lộ trình nghề nghiệp rõ ràng để giữ chân lao động giỏi, tạo động lực cho người lao động yên tâm công hiến.
Với các doanh nghiệp nói chung, tôi cho rằng cần hoàn thiện hệ thống quản trị, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quản lý chất lượng, an toàn lao động và môi trường. Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các dự án, doanh nghiệp cần chủ động đầu tư máy móc, thiết bị chuyên dụng; ứng dụng công nghệ mới trong thi công, quản lý tiến độ; đổi mới sáng tạo với các sáng kiến thi công…, nâng cao hiệu suất, kiểm soát rủi ro và tạo lợi thế cạnh tranh rõ rệt.
Tăng cường hợp tác công tư trong các dự án lớn để chia sẻ rủi ro và tối ưu nguồn lực
Ông Trần Văn Thế, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư và Phát triển INDEL (INDEL CORP)
Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV đã hoạch định rõ ràng các quyết sách chiến lược, trong đó nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế số và thúc đẩy kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Tôi tin tưởng rằng 2026 sẽ là năm bản lề, đánh dấu sự bứt phá của nền kinh tế với tăng trưởng GDP có thể đạt hai con số, tạo bệ phóng cho cả giai đoạn 2026 - 2030. Từ góc độ doanh nghiệp hoạt động chính trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh xăng dầu và năng lượng, tôi nhận thấy, năm 2026 mang lại nhiều thời cơ lớn. Thứ nhất, nhu cầu năng lượng tăng cao do kinh tế phục hồi mạnh mẽ. Thứ hai, các quyết sách từ Đại hội XIV khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia sâu vào phát triển hạ tầng năng lượng, mở ra cơ hội thu hút FDI và công nghệ tiên tiến. Thứ ba, cam kết của Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc lần thứ 26 (COP26) và các hội nghị khí hậu toàn cầu sẽ thúc đẩy đầu tư vào năng lượng tái tạo, mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, chúng tôi nhìn nhận thách thức cũng không nhỏ, như biến động giá dầu thô toàn cầu do căng thẳng địa chính trị, áp lực lạm phát nguyên liệu, yêu cầu chuyển đổi xanh đòi hỏi vốn đầu tư lớn...
Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp bứt phá, đóng góp vào sự phát triển của đất nước, tôi mong muốn Nhà nước tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý hỗ trợ kinh tế xanh, như ưu đãi thuế cho dự án năng lượng tái tạo và đơn giản hóa thủ tục đầu tư hạ tầng; tăng cường phương thức hợp tác đối tác công tư (PPP) trong các dự án lớn để chia sẻ rủi ro và tối ưu nguồn lực; điều hành chính sách tín dụng phù hợp với kế hoạch tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao qua các chương trình quốc gia, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ 4.0.
Đề xuất các bộ, ngành cam kết rà soát và phản hồi kiến nghị theo cơ chế KPI
Bà Lưu Thị Thanh Mẫu, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, CEO Phuc Khang Corporation
Thể chế là gốc rễ của mọi vấn đề phát triển. Do đó, để khai phóng tiềm năng, tạo động lực tăng trưởng bền vững trong giai đoạn 2026 - 2030, theo tôi, Việt Nam cần xây dựng một thể chế minh bạch, công bằng, kịp thời và tiên phong, không chỉ tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, mà còn chủ động dẫn dắt đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Trọng tâm cải cách cần hướng tới cơ chế “Đồng kiến tạo thể chế”, trong đó Nhà nước và doanh nghiệp cùng tham gia ngay từ khâu thiết kế chính sách, xây dựng hệ thống pháp luật; mở rộng cơ chế thử nghiệm (sandbox) đa ngành để tạo không gian an toàn cho các mô hình mới phát triển. Đồng thời xây dựng cổng pháp luật “3 dễ”: dễ hiểu - dễ tiếp cận - dễ thực thi, từ đó giúp chính sách đi vào thực tiễn.
Bên cạnh đó, việc hình thành hệ thống phản hồi chính sách trực tuyến, minh bạch, cùng cơ chế đồng giám sát sẽ giúp các doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Để việc kiến tạo thể chế bám sát thực tiễn, cần duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên, định kỳ hằng quý, ở cả cấp Trung ương và địa phương; đồng thời lập bản ghi nhớ chính sách công khai. Các bộ, ngành cam kết rà soát và phản hồi kiến nghị theo cơ chế KPI rõ ràng như: 100% kiến nghị được trả lời trong vòng 30 ngày.
Cải cách thể chế cũng cần song hành với nâng cao năng lực doanh nghiệp, từ đào tạo pháp lý, quản trị đến chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tăng cường liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, cơ sở đào tạo với khu vực sản xuất, kinh doanh.
Cần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thêm giải pháp nâng cao trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức
Ông Nguyễn Quang Huân, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Halcom Việt Nam
Là một doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực cấp thoát nước, môi trường và hạ tầng, tôi mong muốn trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường minh bạch, thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp; chú trọng phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Tôi cũng kỳ vọng Nhà nước có các chính sách, giải pháp, nguồn lực đầu tư mạnh mẽ hơn cho giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, phát triển văn hóa Việt Nam ra thế giới. Đồng thời, cần có những giải pháp quyết liệt, hiệu quả hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, gắn với kiểm soát quyền lực và nâng cao trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức.
Với các doanh nghiệp, tôi cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp càng cần chú trọng kinh doanh bền vững, trách nhiệm xã hội và lợi ích của các đối tác. Đây chính là yếu tố quyết định cho sự thành công lâu dài của doanh nghiệp. Đồng thời, việc tích hợp các tiêu chí ESG vào chiến lược kinh doanh không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng các chuẩn mực quốc tế mới mà còn tạo lợi thế cạnh tranh, nâng cao uy tín và khả năng thu hút vốn đầu tư trong giai đoạn chuyển đổi xanh hiện nay.
Bối cảnh thị trường biến đổi nhanh chóng, việc kiên định với triết lý kinh doanh và linh hoạt với sự biến động xung quanh sẽ giúp doanh nghiệp xác lập được thị trường và tăng khả năng thích ứng với sự thay đổi. Vì thế, mỗi doanh nghiệp, doanh nhân cần xác định hướng đi với triết lý rõ ràng để xác lập thị trường chứ không nên giành giật thị phần trong một thị trường nhỏ hẹp.
Nếu hoạt động với sự liêm chính và không vụ lợi, doanh nghiệp sẽ góp phần ngăn chặn tham nhũng, hối lộ, tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng cho tất cả các thành viên tham gia trên thị trường.
Nhà nước cần đóng vai trò tổ chức, điều phối, có cơ chế thử nghiệm và chia sẻ rủi ro trong các dự án đổi mới sáng tạo
Ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Phó Tổng giám đốc Công ty CP Thành Thành Công - Biên Hòa (TTC AgriS)
Kinh nghiệm từ các “con rồng châu Á” như Hàn Quốc hay Singapore cho thấy, tăng trưởng cao luôn gắn với vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp đầu đàn. Muốn cạnh tranh toàn cầu, doanh nghiệp phải đủ lớn. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để hình thành và nuôi dưỡng các doanh nghiệp đầu đàn, không chỉ về vốn, mà còn công nghệ, thị trường và nhân lực.
Nghị quyết 68-NQ/TW ra đời là tín hiệu rất tích cực, thể hiện sự cởi mở trong tư duy phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là làm sao đưa Nghị quyết vào cuộc sống một cách thực chất, hiệu quả.
Tôi nhận thấy, nhiều doanh nghiệp với lợi thế am hiểu thị trường sẵn sàng chủ động đề xuất sáng kiến, nhưng Nhà nước cần đóng vai trò tổ chức, điều phối và thiết kế quy trình phối hợp nhanh hơn, thông thoáng hơn, đồng thời có cơ chế thử nghiệm, chấp nhận và chia sẻ rủi ro trong các dự án đổi mới sáng tạo. Khi Nhà nước thực sự đóng vai trò trung gian, kết nối các doanh nghiệp với nhau thì việc triển khai sẽ thuận lợi và khả năng thành công sẽ cao hơn. Nếu không hợp lực, doanh nghiệp Việt rất khó cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia.
Tại TTC AgriS, chúng tôi đặt mục tiêu xuất khẩu khoảng 300 - 400 triệu USD trong năm 2026, tập trung vào các thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ và các nền kinh tế phát triển. Mục tiêu đến năm 2030, doanh thu tăng trưởng gấp đôi và duy trì mức tăng trên 10% mỗi năm. Đây là mục tiêu rất thách thức, không chỉ về quy mô doanh thu, mà còn ở bài toán nâng cao biên lợi nhuận. Để đạt được điều đó, chúng tôi buộc phải chuyển từ xuất khẩu nông sản thô sang phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, truy xuất được nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Bên cạnh tư duy chính sách mới, trong bối cảnh hiện nay, muốn cạnh tranh được trên trường quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động đầu tư bài bản cho công nghệ, quản trị, đào tạo nhân lực và đặc biệt là các tiêu chuẩn ESG, phát triển bền vững. Khi sản phẩm đạt chứng nhận ESG, không chỉ dễ tiếp cận thị trường quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận các dòng vốn dài hạn, chi phí thấp.
Tập trung đào tạo nguồn nhân lực để gỡ điểm nghẽn “trình độ, kỹ năng làm việc”
Ông Phạm Văn Khôi, Tổng giám đốc Công ty CP Đầu tư và Xây dựng giao thông Phương Thành
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách lớn giúp tháo gỡ các điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai, tài chính, công nghệ số, khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng bền vững. Các chính sách này rất đúng và trúng, có vai trò là đòn bẩy hoàn thiện thể chế, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Tuy nhiên, để khung pháp lý, thể chế mới phát huy hiệu quả thì quan trọng nhất vẫn là yếu tố thực thi. Quá trình sáp nhập các địa phương theo địa giới hành chính mới, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đòi hỏi trình độ, năng lực của cán bộ ngày càng cao và có tính thích ứng lớn. Do đó, để bảo đảm có đủ nguồn lực xứng tầm với nhiệm vụ và trọng trách lớn lao, cần có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực có đủ kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực triển khai công việc hiệu quả.
Nếu không có chiến lược bài bản trong đào tạo nguồn nhân lực thì điểm nghẽn về “trình độ, kỹ năng làm việc” sẽ là rào cản đối với các chính sách mới. Nếu không có nhân sự giỏi, những vướng mắc trong thực tiễn không những không được tháo gỡ kịp thời mà còn có thể trở thành lực cản làm chậm tiến độ các dự án, công trình trọng điểm quốc gia.
Nhà nước cần xây dựng chiến lược tổng lực về việc đào tạo đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề
Ông Trần Anh Tuấn, Tổng giám đốc Tập đoàn Đạt Phương
Năm 2026 mở ra một chu kỳ tăng trưởng rất lớn của ngành hạ tầng, với hàng loạt dự án cao tốc, đường sắt, đô thị, cảng biển với quy mô lớn, kỹ thuật cao. Để các doanh nghiệp hạ tầng tận dụng tốt cơ hội này và đóng góp hiệu quả cho nền kinh tế giai đoạn 2026 - 2030, chúng tôi có một số kiến nghị:
Thứ nhất, Nhà nước cần xây dựng chiến lược tổng lực về việc đào tạo đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề cho ngành hạ tầng giao thông để giải bài nhân lực chất lượng cao.
Thứ hai, giá vật liệu và nhân công do địa phương công bố hiện còn chậm và chưa sát thực tế. Cần cơ chế cập nhật kịp thời, đúng và đủ, để hợp đồng xây dựng phản ánh đúng chi phí xã hội.
Thứ ba, nhiều dự án lớn đang gặp điểm nghẽn về mỏ đất, đá, cát, công suất khai thác, thủ tục cấp phép và giá vật liệu. Nếu không tháo gỡ đồng bộ, dù có vốn và nhà thầu tốt, công trường vẫn bị “nghẽn”. Vì vậy cần cơ chế mở mỏ linh hoạt theo tiến độ dự án, điều phối nguồn vật liệu liên vùng và minh bạch giá.
Thứ tư, cần xây dựng các chế tài để kiểm soát, quản trị dòng tiền, hạn mức tín dụng dự phòng, kỷ luật công nợ của các dự án hạ tầng; ưu tiên dự án có điều khoản thanh toán rõ ràng để tránh gây đình trệ thi công, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư.
Thứ năm, Việt Nam chưa có hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, chưa thống nhất công nghệ, chưa có quy trình thi công, định mức và đơn giá cho hạ tầng đường sắt tốc độ cao. Các bộ, ngành cần chuẩn bị và ban hành sớm toàn bộ khung kỹ thuật và pháp lý để doanh nghiệp trong nước kịp đào tạo nhân lực, đầu tư thiết bị, xây dựng liên danh và phát triển công nghiệp đường sắt đúng tiến độ quốc gia.
Tái khởi động mạnh mẽ các dự án năng lượng, góp sức đáp ứng nhu cầu phát triển
Ông Lê Như Phước An, Phó Tổng giám đốc thường trực Trung Nam Group
Thời nay, để vượt thách thức thương trường, các doanh nghiệp cần duy trì năng lực thực thi “thật - chất”. Tại Trung Nam, thông qua việc tạo ra “việc thật - làm thật” với sản phẩm là hàng trăm công trình hạ tầng, năng lượng chất lượng, chúng tôi tự tin phát triển các dự án điện gió, điện mặt trời, LNG, cũng như tham gia lĩnh vực kết cấu hạ tầng với các dự án cao tốc, cầu trên cả nước.
Trên nền tảng sức khỏe tài chính Tập đoàn đang phục hồi, giai đoạn 2026-2030, chúng tôi dự kiến đầu tư khoảng 165.000 tỷ đồng cho mảng năng lượng tái tạo theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, cùng dự án điện khí LNG Cà Ná với tổng mức đầu tư khoảng 57.000 tỷ đồng.
Ngoài nguồn vốn tự có, Trung Nam đang làm việc với các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, đồng thời hợp tác với nhiều đối tác quốc tế về tư vấn, tổng thầu và vận hành. Các khoản thanh toán từ EVN đã có cải thiện, trong khi những vướng mắc liên quan đến cơ chế hợp đồng mua bán điện đang được Chính phủ chỉ đạo tháo gỡ.
Hiện Trung Nam đã nghiên cứu, khảo sát và thực hiện đo gió, đo quang năng tại khoảng 30 dự án điện gió, mặt trời tại một số địa phương. Bên cạnh các dự án năng lượng tái tạo truyền thống, chúng tôi cũng quan tâm đến pin lưu trữ, hydro và amoniac, với kỳ vọng trở thành một trong những doanh nghiệp tiên phong tham gia các lĩnh vực này tại Việt Nam.
Song song với năng lượng, chúng tôi sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng, với việc tham gia các gói thầu lớn, phù hợp với định hướng đẩy mạnh đầu tư công theo chiến lược phát triển quốc gia. Bên cạnh các gói hạ tầng đang thực hiện như Dự án Giải quyết ngập do triều khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu (giai đoạn 1 - TP.HCM); Cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; Cao tốc Khánh Hòa - Ban Mê Thuột; Cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu; Rạch Xuyên Tâm gói XL01 Km0+000 đến Km2+512…, trong năm 2026, Trung Nam dự kiến tham gia Dự án Tuyến đường Vành đai 2 - Hải Phòng; Dự án Đường bộ cao tốc Gia Nghĩa - Bảo Lộc - Phan Thiết…
Khơi thông nguồn lực đất đai: Điểm tựa cho kinh tế tư nhân bứt phá
Ông Nguyễn Phạm Hữu Hậu, Phó Tổng Giám đốc CTCP Đầu tư và Xây dựng Bình Dương ACC (Becamex ACC)
Trong dòng chảy đổi mới của nền kinh tế, khối doanh nghiệp tư nhân được xác định là lực lượng chủ công, đóng vai trò then chốt cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Sự ra đời của Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đã thực sự thổi một luồng sinh khí mới, tạo ra bước ngoặt quan trọng và mở ra vận hội bứt phá cho thị trường bất động sản trong trung và dài hạn.
Điển hình như cam kết cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ pháp luật vào năm 2025, đây là một nỗ lực cải cách chưa từng có tiền lệ. Đặc biệt, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và triển khai mã định danh điện tử cho bất động sản từ ngày 1/3/2026 tạo nền tảng cốt lõi giúp thị trường minh bạch, đưa bất động sản trở về đúng vị thế và tiềm năng vốn có. Tuy nhiên, từ góc độ doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy hành trình đưa Nghị quyết vào cuộc sống vẫn còn không ít rào cản do thiếu sự đồng bộ của các văn bản hướng dẫn dưới luật.
Để thị trường vận hành thông suốt, tôi cho rằng, cần có sự hiệu chỉnh kịp thời về cơ chế tính giá đất, loại bỏ những bất cập nhằm bảo đảm tính thực tế và hài hòa lợi ích. Một hành lang pháp lý trực quan, đồng bộ sẽ là bệ phóng để những doanh nghiệp tự tin cống hiến, biến những dự án trọng điểm thành giá trị hữu hình cho xã hội. Khơi thông được điểm nghẽn về chính sách đất đai chính là khơi thông nguồn lực lớn nhất để nền kinh tế vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới.