|
| Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/1/2026 quy định chi tiết thi hành một số điều và hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm đã được điều chỉnh thời hạn áp dụng một lần. Ảnh: Nhã Chi |
Chính sách đúng nhưng chưa “chạm đất”
Những vướng mắc từ Nghị định 46 cho thấy khoảng cách đáng kể giữa thiết kế chính sách pháp luật và thực tiễn thị trường. Thời gian qua, các doanh nghiệp (DN) và hiệp hội ngành hàng phản ánh hàng loạt bất cập tại Nghị định 46 như: thủ tục công bố và đăng ký sản phẩm; quy định chuyển tiếp và ghi nhãn hàng hóa; yêu cầu truy xuất nguồn gốc thực phẩm, kiểm nghiệm chưa phù hợp với năng lực thực tế của DN và cơ quan quản lý nhà nước; chồng lấn giữa các quy định quản lý chuyên ngành… Hệ quả là chi phí tuân thủ tăng cao (kiểm nghiệm, công bố lại sản phẩm, hợp quy…), nguy cơ ách tắc hàng hóa, làm chậm thông quan, thậm chí bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.
Chia sẻ với phóng viên Báo Đấu thầu, một số DN ngành hàng thực phẩm bày tỏ lo ngại về quy trình xây dựng và ban hành Nghị định 46 nói riêng và một số văn bản khác.
Cụ thể, việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm đã được khởi động từ đầu năm 2025, tuy nhiên, từ Dự thảo lần thứ 8 cho đến khi Nghị định 46 được ban hành, cơ quan chủ trì soạn thảo đã có những thay đổi quan trọng nhưng cộng đồng DN và các hiệp hội ngành hàng không được tiếp cận và nắm bắt kịp thời. Mặt khác, Nghị định được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và có hiệu lực ngay khi ký ban hành mà không có thời gian chuyển tiếp để DN chuẩn bị, gây ra sự bất ngờ và xáo trộn rất lớn, ách tắc hàng hóa thông quan, lỡ cơ hội tham dự thầu, trong khi thực phẩm thường có thời hạn sử dụng rất ngắn.
Việc Chính phủ “phanh gấp”, tạm ngưng thi hành Nghị định 46 được xem là động thái kịp thời, thể hiện tư duy điều hành mới: chính sách phải đồng hành với DN, lấy DN làm trung tâm, phải nuôi dưỡng chứ không bào mòn khu vực sản xuất, chính sách là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam (VBA) đề xuất Chính phủ giãn thời gian hiệu lực của 2 VBQPPL này đến khi Luật An toàn thực phẩm được sửa đổi; nếu tiếp tục áp dụng Nghị định 46 thì điều chỉnh có trọng tâm thay vì áp dụng đồng loạt, cần gia hạn đến hết năm 2026.
Tại văn bản trình Thủ tướng Chính phủ mới đây, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) kiến nghị kéo dài thời gian tạm ngưng cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) có hiệu lực, đồng thời tiếp tục áp dụng Nghị định số 15/2018/NĐ-CP để đảm bảo ổn định. Trong trường hợp tiếp tục triển khai, cần khẩn trương tháo gỡ các điểm nghẽn như: mở rộng điều khoản chuyển tiếp, áp dụng cơ chế “thông quan trước - kiểm tra sau”, đơn giản hóa hồ sơ, công nhận kết quả kiểm nghiệm quốc tế và nâng cao năng lực hệ thống kiểm nghiệm trong nước, hướng dẫn chi tiết truy xuất nguồn gốc thực phẩm và bộ dữ liệu bắt buộc…, đồng thời đánh giá toàn diện để tăng cường năng lực thực thi của hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm quốc gia trước khi triển khai đầy đủ các quy định của Nghị định 46.
Trong cuộc họp liên ngành ngày 13/3/2026, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho biết, trên cơ sở ý kiến thảo luận, thống nhất của các các bộ, ngành và căn cứ tiến độ triển khai Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) cũng như thực tế chưa đảm bảo nguồn lực triển khai Nghị định 46, Nghị quyết 66.13, Bộ Y tế thống nhất đề xuất Thủ tướng kéo dài thời gian chuyển tiếp nhằm tạo điều kiện cho các bộ, ngành, địa phương và DN chuẩn bị nguồn lực cần thiết để thực thi.
Nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật
Câu chuyện Nghị định 46 không phải là cá biệt. Thực tế cho thấy không ít quy định phải điều chỉnh ngay sau khi ban hành do đánh giá tác động chính sách chưa sát thực tế. Đơn cử, năm 2008, việc cấm tuyệt đối hàm lượng melamine trong sữa đã gây ách tắc lưu thông hàng hóa và các thiệt hại kinh tế nghiêm trọng đối với DN sản xuất, nhập khẩu sữa. Bộ Y tế sau đó đã sửa đổi mức giới hạn melamine tối đa là 1 mg/kg cho thực phẩm dành cho trẻ em dưới 36 tháng tuổi và 2,5 mg/kg cho các loại thực phẩm khác. Các vụ việc tương tự khác có thể kể đến: hàm lượng phospho quy định trong quy chuẩn Việt Nam (QCVN) về nước thải của nhà máy chế biến thủy sản; histamine trong nước mắm…
Bộ Thông tin và Truyền thông từng phải điều chỉnh, cho phép miễn một số chỉ tiêu thử nghiệm tại hai QCVN về thiết bị đầu cuối mạng thông tin di động 5G (QCVN 127:2021/BTTTT và QCVN 129:2021/BTTTT) do Việt Nam chưa có nhà cung cấp dịch vụ tại thời điểm ban hành. Theo phản ánh của một số DN, chi phí đầu tư máy móc thử nghiệm đáp ứng yêu cầu lên đến hàng chục tỷ đồng và chi phí thử nghiệm cho mỗi model hiện rất cao do số lượng đơn vị được chỉ định ít.
Tình trạng tương tự cũng xảy ra với yêu cầu thử nghiệm mặt hàng thuốc thú y (QCVN 01-187:2018/BNNPTNT) khi cả nước chỉ có 3 đơn vị đủ năng lực thử nghiệm trên toàn quốc, khiến DN sản xuất thuốc thú y mất nhiều thời gian để làm thủ tục với chi phí cao.
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu cứ tiếp tục lặp lại tình trạng “ban hành rồi sửa” sẽ làm gia tăng chi phí xã hội, DN bị động trong kế hoạch sản xuất kinh doanh, cơ quan thực thi (cấp địa phương) lúng túng, niềm tin vào tính ổn định của chính sách bị ảnh hưởng… Vấn đề cốt lõi nằm ở khâu đánh giá tác động còn hình thức, thiếu dữ liệu thực tế và thiếu tham vấn đầy đủ với DN.
“Đây là bài học quan trọng về sự cần thiết phải có quá trình tham vấn đầy đủ, thực chất và thời gian chuyển tiếp hợp lý đối với các chính sách có tác động lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Kinh nghiệm từ việc triển khai Nghị định 46 cho thấy, một chính sách dù có mục tiêu đúng đắn nhưng nếu thiếu tính khả thi và không có lộ trình thực hiện phù hợp, sẽ gây ra những hậu quả ngược chiều với mục tiêu đề ra”, VCCI đánh giá.