Biến động tỷ giá, lãi suất, năng lượng và địa chính trị: Cách nào giúp doanh nghiệp giảm sức ép chi phí?

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Giá nhiên liệu, nguyên liệu đầu vào tăng mạnh dưới tác động của biến động địa chính trị đang trực tiếp bào mòn biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong khi lãi suất, tỷ giá và lạm phát tiếp tục là những biến số khó lường, doanh nghiệp không thể chỉ chờ chính sách hỗ trợ, mà phải chủ động thay đổi cách mua hàng, đàm phán hợp đồng, cân đối dòng tiền và tìm kiếm thị trường mới để duy trì sản xuất, kinh doanh.

Biến động tỷ giá, lãi suất, năng lượng và địa chính trị: Cách nào giúp doanh nghiệp giảm sức ép chi phí?

Từ góc độ doanh nghiệp sản xuất vôi (công nghiệp nặng), ông Đỗ Tiến Thành - Giám đốc điều hành Công ty TNHH 26868 cho biết, cuối năm 2025, giá một tấn nguyên liệu ở mức khoảng 1,3 triệu đồng, nhưng chỉ sau 2 quý đã tăng lên mức 1,7 - 1,8 triệu đồng, tương đương với mức tăng khoảng 40%. Con số này cho thấy mức độ tác động nặng nề đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong ngành đến từ biến động địa chính trị và giá năng lượng trên thế giới. Với đặc thù ngành sản xuất tiêu hao nhiều năng lượng, giá nhiêu liệu tăng không chỉ làm tăng chi phí vận hành, mà còn kéo theo chi phí khai thác, vận chuyển nguyên liệu và logistics.

Bên cạnh đó là sức ép cộng hưởng từ nhu cầu nguyên liệu phục vụ đầu tư công trong nước tăng mạnh, trong khi nguồn cung khoáng sản hạn chế.

Khi giá đầu vào tăng liên tiếp qua nhiều khâu, chi phí sản xuất bị đội lên lũy kế, tạo sức ép lớn đến giá thành và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Với doanh nghiệp xuất khẩu, việc chuyển toàn bộ phần chi phí tăng thêm vào giá bán không đơn giản, bởi còn phụ thuộc vào sức mua, cạnh tranh quốc tế và các điều khoản đã cam kết với khách hàng.

Không chỉ ngành sản xuất công nghiệp nặng, theo ông Nguyễn Hoài Nam - Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), doanh nghiệp thành viên cũng gặp không ít khó khăn. VASEP hiện có khoảng 310 doanh nghiệp hội viên, đóng góp khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Năm nay ước tính giá trị xuất khẩu vượt 12 tỷ USD.

Theo ông Nam, những biến động từ bên ngoài đang truyền dẫn rất nhanh vào hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước. Giá dầu tăng làm chi phí vận tải biển tăng. Xung đột tại Trung Đông khiến nguồn cung nguyên liệu nhựa, đặc biệt là hạt nhựa, bị thu hẹp, kéo theo giá bao bì tăng. Đây đều là những khoản chi phí đầu vào quan trọng đối với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản.

Đáng chú ý, chi phí logistics có thể thay đổi rất nhanh theo diễn biến thế giới. Ông Nam dẫn chứng, giá cước vận chuyển một container hàng khô đông lạnh chỉ sau một đêm (ngày 14/6/2026) tăng 20 - 30%. Chi phí vận chuyển gia tăng cùng giá nhiên liệu và nguyên liệu bao bì đang tạo thêm sức ép lên giá thành, thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp thủy sản.

Trước tình hình này, ông Nam cho biết, VASEP đã phản ánh, cập nhật thông tin và kiến nghị với các cơ quan quản lý, trong đó có Bộ Công Thương, nhằm tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn.

Tuy nhiên, theo đại diện VASEP, vấn đề lớn hơn đối với doanh nghiệp hiện nay là dòng vốn lưu động. Muốn tăng trưởng hai con số, doanh nghiệp phải mở rộng đơn hàng, tăng sản lượng và đầu tư sản xuất. Nhưng để thực hiện được những mục tiêu đó, doanh nghiệp cần có vốn mua nguyên liệu, duy trì sản xuất và tổ chức dòng chảy chuỗi cung ứng. Nếu thiếu tín dụng, việc mở rộng đơn hàng có thể trở thành áp lực, thay vì cơ hội tăng trưởng.

Tại Diễn đàn Doanh nghiệp trước biến động tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng: Kịch bản ứng phó cuối năm 2026, triển vọng năm 2027 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 30/10, các chuyên gia cũng nhận diện, những tác động từ biến động địa chính trị, giá năng lượng và chính sách tiền tệ toàn cầu đến chi phí sản xuất và khả năng cạnh tranh là những yếu tố doanh nghiệp cần đặc biệt lưu tâm trong những tháng cuối năm và năm 2027.

TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh nhận định, 4 nhóm yếu tố lớn đang định hình môi trường kinh doanh, đó là địa chính trị, công nghệ, kinh tế - thương mại - đầu tư và năng lượng. Trong đó, năng lượng không còn là câu chuyện riêng của các doanh nghiệp khai thác, kinh doanh dầu khí, mà liên quan đến hầu hết lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu. Từ sản xuất chíp, công nghiệp chế biến đến nông nghiệp, các hoạt động kinh tế đều phụ thuộc vào năng lượng ở mức độ khác nhau. Vì vậy, một cú sốc năng lượng có thể lan truyền trên diện rộng, làm tăng chi phí của nhiều ngành hàng.

Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải tính đến những thay đổi trong chính sách thương mại quốc tế. TS. Võ Trí Thành lưu ý, tăng trưởng thương mại của Việt Nam với thị trường Mỹ thời gian qua đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải chuẩn bị chiến lược thích ứng, không chỉ tận dụng cơ hội thị trường, mà còn bảo đảm tuân thủ quy định về xuất xứ, tránh trung chuyển, kiểm soát hàng hóa và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Trước sức ép chi phí đầu vào gia tăng, ông Đỗ Tiến Thành chia sẻ, Công ty TNHH 266868 đã chủ động thay đổi cách thức quản trị nguyên liệu và tài chính. Với những nguyên liệu quan trọng như than đá, doanh nghiệp theo dõi sát diễn biến thị trường để lựa chọn thời điểm mua phù hợp, đồng thời đàm phán các hợp đồng dài hạn nhằm hạn chế rủi ro biến động giá.

Trong hoạt động bán hàng, doanh nghiệp cũng chú trọng đến các điều khoản điều chỉnh giá. Thay vì chỉ chốt một mức giá cố định, doanh nghiệp đưa vào hợp đồng điều kiện xem xét, đàm phán lại giá nguyên liệu đầu vào biến động vượt ngưỡng nhất định. Cách làm này giúp phân chia rủi ro giữa bên mua và bên bán, hạn chế tình trạng doanh nghiệp sản xuất phải gánh toàn bộ phần chi phí tăng thêm trong thời gian thực hiện hợp đồng.

Thị trường tiêu thụ cũng được doanh nghiệp tính toán lại theo hướng đa dạng hóa. Bên cạnh các thị trường xuất khẩu truyền thống, ông Đỗ Tiến Thành chia sẻ, Công ty tìm kiếm cơ hội ở thị trường trong nước, như sản phẩm phục vụ xử lý nước trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu thủy sản. Song, việc mở rộng thị trường nội địa cũng đặt ra bài toán riêng. Có những thời điểm, giá bán trong nước tốt hơn xuất khẩu, nhưng việc thu hồi tiền lại khó khăn hơn. Vì vậy, khi quyết định lựa chọn thị trường, doanh nghiệp không chỉ căn cứ vào giá bán, mà phải tính đến khả năng thanh toán và vòng quay dòng tiền.

Về dài hạn, doanh nghiệp hướng tới tối ưu hóa tiêu hao nhiên liệu và nghiên cứu đầu tư công nghệ để giảm sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Tuy nhiên, trước biến động đồng thời của lãi suất và giá dầu, việc đầu tư công nghệ và khả năng tài chính là bài toán đặt ra lúc này.

Ông Nguyễn Hoài Nam đề xuất Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đánh giá lại hiệu quả chính sách tín dụng theo hướng ưu tiên khả năng tiếp cận vốn. Doanh nghiệp cần được bảo đảm nguồn vốn để thu mua nguyên liệu, duy trì sản xuất và tận dụng cơ hội đơn hàng, nhất là các doanh nghiệp có quy mô xuất khẩu hàng trăm triệu USD mỗi năm cần nhu cầu vốn rất lớn, trong khi những chương trình hỗ trợ tín dụng với quy mô và điều kiện như hiện nay chỉ phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Kết nối đầu tư