11 dấu hiệu cảnh báo sớm rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Các dấu hiệu cảnh báo thường xuất hiện ở các ngân hàng từ một vài năm trước khi sự kiện mất khả năng thanh toán (“default”) xảy ra và xuất hiện lặp lại trên cả phương diện định lượng và định tính, mặc dù nguyên nhân trực tiếp của từng trường hợp không hoàn toàn giống nhau. Một số dấu hiệu hiện rõ khi quan sát diễn biến nợ xấu và bất thường trong phương thức huy động vốn. 

Tăng trưởng nợ xấu và nợ nhóm 2 trong giai đoạn 2009-2011 của một ngân hàng từng mất khả năng thanh toán vào năm 2013
Tăng trưởng nợ xấu và nợ nhóm 2 trong giai đoạn 2009-2011 của một ngân hàng từng mất khả năng thanh toán vào năm 2013

Đó là nội dung đáng chú ý từ nghiên cứu về “Các dấu hiệu cảnh báo sớm rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng Việt Nam: Từ góc nhìn Xếp hạng tín nhiệm” vừa được FiinRatings công bố. Nghiên cứu được thực hiện với 15 trường hợp ngân hàng mất khả năng thanh toán (“default”) và tiệm cận mất khả năng thanh toán trong lịch sử. Trong khi các dấu hiệu thiên về định lượng mô tả các sự bất thường dưới nhiều hình thức về mô hình kinh doanh, cấu trúc tài sản & nguồn vốn, bộ đệm vốn, chất lượng tài sản, thanh khoản…, các dấu hiệu thiên về định tính tập trung phản ánh về vị thế rủi ro, huy động vốn, và quản trị của các ngân hàng.

Có 5 dấu hiệu định lượng bao gồm: sự bất cân xứng giữa tăng trưởng tổng tài sản, tăng trưởng dư nợ cho vay và tăng trưởng tiền gửi khách hàng; tài sản có tính thanh khoản cao/tổng tài sản duy trì ở mức thấp và suy giảm dần theo thời gian; số ngày lãi và phí phải thu liên tục cao hơn đáng kể so với trung vị ngành; tốc độ tăng trưởng nợ xấu và nợ nhóm 2 cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay; tỷ lệ đòn bẩy thuần duy trì ở mức cao và liên tục tăng qua các năm.

Trong đó, đối với dấu hiệu về diễn biến nợ xấu, trong quá trình nghiên cứu, FiinRatings nhận thấy nhiều trường hợp ngân hàng mất khả năng thanh toán ghi nhận tốc độ tăng trưởng nợ xấu (NPL) (bao gồm nợ nhóm 3-5 và trái phiếu VAMC) và nợ cần chú ý (SML) (nợ nhóm 2) cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay. Xu hướng này phản ánh chất lượng tài sản suy giảm nhanh hơn quá trình mở rộng bảng cân đối kế toán, đồng thời cho thấy rủi ro tín dụng đã tích tụ trong nhiều kỳ trước khi xảy ra sự kiện mất khả năng thanh toán.

Minh họa cho dấu hiệu này là trường hợp đã xảy ra của một ngân hàng có tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay giảm dần từ 131% năm 2009 xuống 37% năm 2010 và 20% năm 2011. Trái ngược với xu hướng này, nợ nhóm 2 và nợ xấu lại tăng đột biến tại từng thời điểm, với mức tăng lần lượt lên tới 558% (2009) và 708% (2011) đối với nợ nhóm 2, cùng 575% (2010) đối với nợ xấu. Ngân hàng này rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán vào năm 2013.

Ở trường hợp khác, một ngân hàng mặc dù dư nợ cho vay vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2010 - 2011, nợ nhóm 2 và nợ xấu đã tăng mạnh, lần lượt đạt 917% và 188% vào cuối năm 2011, khoảng một năm trước khi Ngân hàng suy yếu và rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Có 6 dấu hiệu định tính bao gồm: rủi ro tập trung tín dụng; Lịch sử sai phạm về quản trị và tuân thủ; quyền kiểm soát tập trung thông qua nhóm cổ đông cá nhân liên quan; bất thường trong phương thức huy động vốn; bất ổn trong cơ cấu cổ đông và lãnh đạo; tiền sử tái cơ cấu và can thiệp của cơ quan quản lý.

Trong đó, dấu hiệu về bất thường trong phương thức huy động vốn dễ nhận dạng với nhiều. Đó là tình trạng ngân hàng duy trì các chính sách huy động vốn bất thường, như trả lãi suất cao hơn mặt bằng chung hoặc áp dụng các hình thức huy động thiếu bền vững. Điều này phản ánh áp lực thanh khoản lớn và sự phụ thuộc ngày càng tăng vào nguồn vốn huy động để duy trì hoạt động liên tục.

Minh họa cho dấu hiệu này, FiinRatings đưa ra trường hợp một ngân hàng từng thực hiện chi lãi ngoài và huy động vượt trần lãi suất để giữ chân khách hàng; tính từ năm 2011 đến 2015 đã chi hơn 468 tỷ đồng tiền lãi ngoài hoặc trường hợp ngân hàng O duy trì mức lãi suất huy động cao nhất hệ thống trong giai đoạn 2022 - 2023 (khoảng 9 - 10%/năm) nhằm thu hút tiền gửi.

Kết nối đầu tư