(BĐT) - Tổng cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa công bố dữ liệu kinh tế - xã hội quý II/2022 và 6 tháng đầu năm 2022 với những con số khởi sắc ở hầu hết các ngành, lĩnh vực. Song nhiều dự báo cho thấy, lạm phát và chi phí sản xuất tăng cao tiếp tục là những khó khăn, thách thức đối với nền kinh tế trong những tháng cuối năm.
Giá xăng dầu, nguyên vật liệu tăng làm gia tăng áp lực lạm phát trong nửa cuối năm 2022. Ảnh: Song Lê

Giá xăng dầu, nguyên vật liệu tăng làm gia tăng áp lực lạm phát trong nửa cuối năm 2022. Ảnh: Song Lê

Theo Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2022 ước tính tăng 7,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của quý II các năm trong giai đoạn 2011 - 2021. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, GDP tăng 6,42%, cao hơn tốc độ tăng 2,04% của 6 tháng đầu năm 2020 và tốc độ 5,74% của cùng kỳ năm 2021.

Bà Nguyễn Thị Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê nhấn mạnh, một số ngành đã có mức tăng cao hơn trước khi dịch Covid-19 xuất hiện như công nghiệp chế biến, chế tạo; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng; xuất khẩu hàng hóa… Tuy nhiên, dù đang trong quá trình phục hồi nhưng nền kinh tế sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, trở ngại trong thời gian tới.

Bà Nguyễn Thu Oanh, Vụ trưởng Vụ Thống kê giá thuộc Tổng cục Thống kê cho rằng, có nhiều yếu tố giúp Việt Nam thành công trong kiềm chế tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 6 tháng đầu năm 2022 ở mức 2,44% so với cùng kỳ năm trước như: mặt hàng lương thực, thực phẩm có mức giảm 0,4% so với cùng kỳ (đặc biệt phải kể đến là chỉ số giá của nhóm thịt lợn giảm 20,1%); nhiều địa phương miễn giảm học phí để chia sẻ khó khăn với người dân, làm chỉ số dịch vụ giáo dục giảm 3,56%. Chính phủ cũng thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt để bình ổn giá cả: giảm thuế VAT đối với một số nhóm hàng hóa dịch vụ từ 10% còn 8%; giảm thuế bảo vệ môi trường với nhiên liệu bay...

Tuy nhiên, áp lực của lạm phát từ nay tới cuối năm là rất lớn, có độ trễ tập trung vào quý III, quý IV và năm 2023. Một số yếu tố được dự báo sẽ khiến CPI tăng mạnh là giá nguyên nhiên vật liệu đang ở mức cao trong khi Việt Nam phải nhập khẩu phần lớn nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, từ đó tác động vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm… Đặc biệt, giá xăng dầu biến động mạnh sẽ tác động tới nhiều mặt hàng quan trọng khác. Tính toán của Tổng cục Thống kê cho thấy, khi giá xăng dầu trong nước tăng 10% làm CPI tăng 0,36 điểm phần trăm.

Bên cạnh đó, giá lương thực, thực phẩm vốn đang chiếm quyền số rất lớn trong rổ hàng hóa CPI có khả năng tăng cao trở lại trong những tháng cuối năm khi dịch Covid-19 được kiểm soát và nhu cầu tiêu dùng của người dân phục hồi mạnh. Việc điều chỉnh giá của dịch vụ giáo dục, y tế theo lộ trình cũng sẽ tác động không nhỏ tới CPI, đặc biệt là chỉ số giá dịch vụ giáo dục… Việc đạt được mục tiêu lạm phát 4% như Quốc hội đề ra là thách thức rất lớn, bà Oanh nhấn mạnh.

Theo TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, rủi ro lớn nhất của cả thế giới hiện nay là lạm phát. Với Việt Nam, ông Lực nhận định lạm phát năm nay phải gấp đôi năm ngoái trở lên, khoảng trên 4%. Ông Lực phân tích, nếu tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát có thể làm ảnh hưởng đến quá trình phục hồi kinh tế. Do đó, các cơ quan điều hành hiện đang ở trong “thế khó” là tăng hay không tăng lãi suất. Tăng lãi suất để giúp kiểm soát lạm phát, nhưng lại kiềm chế tăng trưởng do vốn cho doanh nghiệp bị siết, ảnh hưởng quá trình phục hồi kinh tế, ông Lực nêu quan điểm.

Để kiềm chế lạm phát trong những tháng cuối năm, Tổng cục Thống kê đề xuất một số giải pháp. Trong đó, cần bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong nước, không để xảy ra gián đoạn nguồn cung; nghiên cứu giải pháp giảm thuế để chia sẻ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng để đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân về lương thực, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng thiết yếu.

Mặt khác, trong bối cảnh hiện nay, việc điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục, y tế theo lộ trình sẽ càng khiến áp lực lạm phát gia tăng. Do đó, Tổng cục Thống kê đề xuất, nghiên cứu, đánh giá kỹ tác động để điều chỉnh phù hợp. Không nên điều chỉnh nhiều mặt hàng do Nhà nước quản lý trong cùng một tháng, tính toán giãn thời điểm điều chỉnh giữa các địa phương nhằm giảm áp lực lên lạm phát.

Ngoài ra, cần điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa vĩ mô khác để kiểm soát lạm phát như mục tiêu đề ra. Đặc biệt cần bảo đảm đầy đủ, kịp thời nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế nhưng cũng không được chủ quan với rủi ro về lạm phát.