Thách thức mới cho điều hành tỷ giá và kiểm soát lạm phát

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vừa có một bước ngoặt chính sách khi quyết định tăng lãi suất tham chiếu 25 điểm cơ bản, đưa mức lãi suất lên 3,75 - 4% sau một thời gian dài duy trì ổn định. Diễn biến này đi kèm với nhiều biến động lớn về giá năng lượng và thị trường tài chính, tác động về nhiều mặt với các nền kinh tế có độ mở cao, trong đó có Việt Nam, đặt ra bài toán khó về điều hành tiền tệ, kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng nội tệ trong năm nay.

Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất lên mức 3,75 - 4% sau một thời gian dài duy trì ổn định sẽ ảnh hưởng tới các nền kinh tế có độ mở lớn, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Lê Gia Khoa
Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất lên mức 3,75 - 4% sau một thời gian dài duy trì ổn định sẽ ảnh hưởng tới các nền kinh tế có độ mở lớn, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Lê Gia Khoa

Đánh giá về động thái của Fed và chuyển động của kinh tế thế giới, chuyên gia tài chính - tiền tệ Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, động cơ chính khiến Fed đi ngược lại mong muốn của chính quyền Tổng thống Donald Trump là lo ngại lạm phát tại Mỹ trước nguy cơ bùng phát trở lại. Thực trạng tại Mỹ cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đang ở mức 3,4%, vượt xa mức mục tiêu 2%, buộc cơ quan này phải hành động quyết liệt nhằm kiềm chế đà tăng giá. Khi Fed tăng lãi suất, giá trị của đồng USD lập tức được củng cố so với các đồng tiền khác, trong đó có VND, từ đó tạo ra áp lực trực tiếp đẩy tỷ giá trong nước leo thang, tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế.

Về nhập khẩu, các mặt hàng thanh toán bằng ngoại tệ trở nên đắt đỏ hơn, làm gia tăng chi phí đầu vào và tạo sức ép lan tỏa lên lạm phát nội địa. Trong khi đó, ở chiều xuất khẩu, dù lý thuyết cho rằng tỷ giá tăng sẽ có lợi, nhưng thực tế Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu nguyên vật liệu để phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu. Do đó, nếu lượng nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu, phần lợi ích thu về từ xuất khẩu sẽ nhanh chóng bị bù trừ bởi những bất lợi từ phía chi phí nhập khẩu.

Bên cạnh đó, áp lực từ thị trường tài chính - tiền tệ làm thu hẹp dư địa điều hành chính sách tiền tệ trong nước. Chỉ số CPI 8 tháng của Việt Nam đã lên mức 4,45%, khiến mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm dưới 4,5% trở nên thách thức hơn. Mặc dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước rất mong muốn duy trì mặt bằng lãi suất thấp để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, nhưng dưới sức ép từ lãi suất và tỷ giá, việc hạ thêm lãi suất trở nên khó khăn do dư địa thực tế gần như không còn. Đặc biệt, các doanh nghiệp, nhất là những đơn vị xuất nhập khẩu có các khoản vay vốn bằng đồng USD sẽ gặp nhiều khó khăn do vừa phải đối diện với mức lãi suất vay cao hơn, vừa gánh rủi ro lớn từ biến động tỷ giá.

Tuy nhiên, theo chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu, Việt Nam hoàn toàn có thể cân bằng áp lực thông qua một số biện pháp và công cụ điều hành linh hoạt. Các giải pháp trọng tâm bao gồm tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhằm gia tăng nguồn cung ngoại tệ, duy trì ổn định xuất nhập khẩu và thúc đẩy xuất siêu để cân bằng cung - cầu ngoại tệ nội địa. Thêm vào đó, việc khơi thông và thu hút mạnh mẽ nguồn kiều hối cũng đóng vai trò quan trọng giúp bổ sung nguồn cung ngoại tệ, giảm bớt áp lực tỷ giá. Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng tiếp tục sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ như phát hành tín phiếu hay can thiệp thị trường mở để điều tiết thị trường.

16.jpg
Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam chịu tác động trực tiếp từ quyết định tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Ảnh: Lê Gia Khoa

Phân tích về xu hướng tỷ giá USD/VND từ nay đến cuối năm, ông Hiếu cho rằng, dù biến động trong thời gian qua tương đối thấp (tăng khoảng 2%), nhưng dưới sức ép từ Fed, tỷ giá được dự báo sẽ có xu hướng tăng và dao động trong khoảng 3 - 4% cho cả năm, chi phối bởi các yếu tố như lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ, kết quả bầu cử giữa kỳ tại Mỹ vào tháng 11/2026, cũng như các biến động địa chính trị quốc tế như căng thẳng tại Trung Đông nếu giá dầu vượt mốc 110 USD/thùng.

“Áp lực lạm phát nóng trở lại” cũng là nhận định của trong báo cáo kinh tế vĩ mô vừa phát hành của Công ty Chứng khoán MB (MBS). Theo nhóm nghiên cứu của MBS, trong 8 tháng đầu năm 2026, CPI bình quân đã tăng 4,45% so với cùng kỳ năm ngoái (trong khi cùng kỳ năm 2025 chỉ tăng 3,25%) với những đóng góp chính đến từ các nhóm hàng hóa thiết yếu. Cụ thể, chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,8% do giá thịt lợn tăng 4,5% vì nguồn cung hạn chế trong dịp Tết cùng chi phí chăn nuôi cao, kết hợp với giá ăn uống ngoài gia đình tăng 7,1% do chi phí nguyên liệu và dịch vụ leo thang. Giá điện sinh hoạt tăng 4,8% do nhu cầu sử dụng điện lớn và nhóm giao thông tăng 5,4% chủ yếu do giá xăng dầu tăng mạnh từ tháng 3. Lũy kế từ đầu năm, lạm phát cơ bản ghi nhận mức tăng 4,2% so với cùng kỳ.

Về chặng đường 4 tháng cuối năm 2026, MBS dự báo áp lực lạm phát vẫn còn rất lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thứ nhất, giá dầu thế giới đã rục rịch tăng trở lại từ nửa cuối tháng 7 và chạm mức cao nhất trong 4 tháng ở ngưỡng 107 USD/thùng vào đầu tháng 9 (tăng 77% so với đầu năm) trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị Trung Đông tiếp tục leo thang, gây áp lực đáng kể lên giá xăng dầu nội địa do Việt Nam là quốc gia nhập khẩu năng lượng ròng. Thứ hai, giá vật liệu xây dựng được dự báo tiếp tục tăng do nhu cầu triển khai các công trình hạ tầng và bất động sản dân cư tăng mạnh, trong đó giá thép có thể tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Thứ ba, những tác động trễ từ yếu tố tỷ giá và sự bứt phá của tăng trưởng tín dụng trong năm 2025 sẽ dần phản ánh rõ nét vào mặt bằng giá cả hàng hóa trong năm 2026.

Kết nối đầu tư