|
| Ảnh minh họa internet |
Nghị định gồm 6 chương, 63 điều quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch về: lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh (bao gồm: đề cương lập quy hoạch, nội dung quy hoạch, lấy ý kiến về quy hoạch, trách nhiệm của cơ quan tổ chức); thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch; hệ thống thông tin quốc gia về quy hoạch và cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch (bao gồm: xây dựng, quản lý vận hành, khai thác hệ thống thông tin quốc gia về quy hoạch, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch); kiểm tra hoạt động quy hoạch, đánh giá, điều chỉnh quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.
Bổ sung 8 quy định mới
Nghị định được Quốc hội giao quy định chi tiết đối với 8 nội dung mới, bao gồm bổ sung quy định về nguyên tắc và trình tự xác định quy hoạch được thực hiện trong trường hợp các quy hoạch có sự mâu thuẫn theo hướng quy định căn cứ để xác định quy hoạch được thực hiện trong trường hợp các quy hoạch có mâu thuẫn; trình tự xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch và thời hạn tối đa để xử lý mâu thuẫn tương ứng với từng trường hợp mâu thuẫn, bảo đảm công khai, minh bạch trong việc giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, kinh doanh.
Bổ sung quy định trình tự lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch ngành theo hướng quy định trình tự đối với các quy hoạch ngành thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ và quy định trình tự lập, thẩm định, phê duyệt đối với các quy hoạch ngành thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng.
Bổ sung quy định về thời hạn công bố, công khai quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh để bảo đảm quy hoạch được kịp thời công bố, công khai, đáp ứng yêu cầu sớm nhất đưa quy hoạch đã được quyết định hoặc phê duyệt vào triển khai thực hiện.
Bổ sung quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục xin ý kiến, quyết định hoặc phê duyệt đề cương lập quy hoạch theo hướng đơn giản hoá trình tự, thủ tục và quy định cụ thể thời hạn xin ý kiến đối với đề cương lập quy hoạch để rút ngắn thời gian lập quy hoạch.
Bổ sung quy định về thể thức hồ sơ trình thẩm định và hồ sơ trình phê duyệt để áp dụng thống nhất trong bối cảnh đã có sự phân cấp thẩm quyền thẩm định và phê duyệt quy hoạch.
Dẫn chiếu quy định về trình tự, thủ tục kiểm tra hoạt động quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Bổ sung quy định về đánh giá sự phù hợp của dự án với quy hoạch trong chấp thuận hoặc phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đầu tư, pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư theo hướng quy định đánh giá sự phù hợp về phạm vi và nội dung của dự án có sự tương đồng với phạm vi liên quan đến nội dung của từng loại quy hoạch.
Quy định chuyển tiếp để không tạo khoảng trống pháp lý và không ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước khi Nghị định được Chính phủ xem xét, ban hành.
Lược bỏ và cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính
Nghị định đã bãi bỏ quy định về nhiệm vụ lập quy hoạch do Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15 đã thay thế quy định về “nhiệm vụ lập quy hoạch” bằng “đề cương lập quy hoạch”. Bãi bỏ nội dung quy định về danh mục dự kiến dự án quan trọng, dự án dự kiến ưu tiên đầu tư trong quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh để bảo đảm tính linh hoạt trong triển khai thực hiện quy hoạch, nhất là triển khai thực hiện dự án do nội dung của từng loại quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh tại Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15 đã lược bỏ quy định về danh mục dự án. Bãi bỏ quy định về việc lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đối với quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh trước khi gửi lấy ý kiến về quy hoạch; quy định danh mục sơ đồ, bản đồ quy hoạch ban hành kèm văn bản quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch; quy định về hoàn thiện hồ sơ quy hoạch theo văn bản quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch; quy định về trình tự, thủ tục lập, điều chỉnh kế hoạch thực hiện quy hoạch do Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15 đã lược bỏ các quy định này.
Liên quan đến cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính, Nghị định đã cắt giảm và đơn giản hóa phạm vi, hình thức, thời gian lấy ý kiến đối với từng loại quy hoạch để phù hợp với nội dung của từng loại quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.
Về quy trình thẩm định, Nghị định đã cắt giảm quy định về việc xin ý kiến bằng văn bản đối với dự thảo báo cáo thẩm định quy hoạch, với lý do: báo cáo thẩm định được tổng hợp trên cơ sở văn bản tham gia ý kiến thẩm định của thành viên Hội đồng thẩm định. Do vậy, việc xin ý kiến bằng văn bản đối với dự thảo báo cáo thẩm định quy hoạch sẽ làm phát sinh thủ tục nội bộ không cần thiết.
Về phân cấp, phân quyền trong thẩm định, phê duyệt quy hoạch ngành, Nghị định quy định quyền phê duyệt các quy hoạch ngành theo hướng: Đối với các quy hoạch ngành đã có quy định cụ thể về thẩm quyền phê duyệt tại các luật chuyên ngành thì giữ nguyên thẩm quyền phê duyệt tại luật chuyên ngành; đối với các quy hoạch chưa có quy định về thẩm quyền phê duyệt tại các luật chuyên ngành thì quy định Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các quy hoạch ngành có liên quan đến an ninh, quốc phòng, các quy hoạch có vai trò quan trọng, tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và phân cấp Bộ trưởng phê duyệt các quy hoạch ngành còn lại.
Theo đó, có 20 quy hoạch ngành thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ và 14 quy hoạch ngành thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng thuộc phạm vi quản lý (chi tiết tại Phụ lục III của Nghị định).
Quy định phân cấp thẩm quyền thành lập Hội đồng thẩm định quy hoạch ngành cho Bộ trưởng đối với các quy hoạch ngành thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng.