Kiến tạo môi trường để doanh nghiệp tự lớn

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Cải cách thể chế đang diễn ra với tốc độ hiếm có. Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), doanh nghiệp (DN) không chỉ cần những chính sách thông thoáng trên văn bản. Họ cần một môi trường pháp lý ổn định, có thể dự báo và một bộ máy thực thi đủ nhanh để biến cải cách thành cơ hội đầu tư.

Việt Nam đang thiếu lực lượng doanh nghiệp quy mô vừa và lớn
Việt Nam đang thiếu lực lượng doanh nghiệp quy mô vừa và lớn
182.jpg

Khi DN được xác định là trung tâm và là một động lực quan trọng của tăng trưởng, thước đo cuối cùng của cải cách phải là DN có lớn lên được hay không. Muốn vậy, tư duy chính sách cần dịch chuyển mạnh từ "quản lý DN" sang “kiến tạo môi trường” để DN tự đầu tư, đổi mới và lớn lên.

Trong dòng chảy cải cách thể chế, từ phản ánh của cộng đồng DN mà VCCI tiếp nhận, theo ông, đâu là những nút thắt lớn nhất khiến DN chưa mạnh dạn đầu tư, mở rộng và lớn lên?

Phải nói rằng quyết tâm cải cách thể chế hiện nay rất lớn và tốc độ thay đổi chính sách cũng rất nhanh. Riêng năm 2025 đã có 89 luật được ban hành, một khối lượng lập pháp đặc biệt lớn. Thời gian trung bình để ban hành một luật đã rút từ khoảng 2 năm còn khoảng 126 ngày theo thống kê của VCCI. Năm 2026, khối lượng xây dựng pháp luật tiếp tục ở mức cao, với ít nhất 80 luật dự kiến được ban hành.

Nhưng DN không đếm số luật được sửa hay số thủ tục được cắt. Câu hỏi của họ rất cụ thể: dự án của tôi có làm nhanh hơn không, chi phí có giảm không, rủi ro có ít đi không?

Có một nghịch lý mà VCCI theo dõi nhiều năm: DN Việt Nam rất đông nhưng chưa mạnh. Theo tôi, có mấy nút thắt lớn.

Thứ nhất là tính bất định. DN không sợ cạnh tranh, không sợ khó, họ sợ nhất là không biết ngày mai quy định sẽ thế nào. Khảo sát PCI (Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) 2025 cho thấy, chỉ khoảng 6 - 8% số DN được khảo sát cho biết có thể dự đoán được những thay đổi chính sách, pháp luật ở mức "thường xuyên" hoặc "luôn luôn". Đây là con số rất đáng suy nghĩ. Một nhà đầu tư bỏ vốn cho dự án 10 năm thì cần nhìn thấy luật chơi ổn định ít nhất trong mười năm đó.

Thứ hai là khoảng cách giữa quy định và cách hiểu. Một quy định không rõ ràng, hay mỗi cơ quan hiểu một kiểu có thể khiến DN trì hoãn cả một quyết định đầu tư. Khi không chắc chắn, lựa chọn an toàn nhất của DN là chờ, mà chờ thì cơ hội trôi qua.

Thứ ba là rủi ro pháp lý. DN lo nhất không phải là chi phí tuân thủ, mà là việc hôm nay làm đúng nhưng mai kia bị xem xét lại theo một cách hiểu khác. Tâm lý này làm DN co lại, không dám mở rộng.

Tôi cũng muốn lưu ý một điểm, khi luật thay đổi nhanh và nhiều như hiện nay, DN cần thời gian để thích ứng. Tốc độ lập pháp nhanh là điều đáng mừng, nhưng phải đi kèm thời gian chuyển tiếp hợp lý, văn bản hướng dẫn kịp thời và nguyên tắc không làm xấu đi quyền lợi hợp pháp mà DN đã có. Nhanh mà không ổn định thì DN vẫn chưa dám đi.

Điều DN cần hơn cả không phải là thêm ưu đãi, mà là một môi trường kinh doanh an toàn, minh bạch, ổn định và có thể dự báo. Cải cách tốt là cải cách làm cho DN cảm thấy an toàn hơn khi bỏ vốn.

Làm thế nào để chính sách thực sự đến được với DN?

Chính sách tốt không chỉ nằm ở mục tiêu đúng hay nguồn lực lớn, mà ở chỗ DN có tiếp cận được dễ dàng hay không.

Tôi cho rằng cần đi theo hướng "không xin, không duyệt, không chờ". Nhìn lại thời gian qua, những chính sách có tác động rộng nhất như giảm 2% thuế giá trị gia tăng hay bãi bỏ hàng nghìn điều kiện kinh doanh đều có chung một đặc điểm: DN đủ điều kiện thì tự động được hưởng, không phải làm đơn, không phải chứng minh, không phải chờ một cán bộ hay một cơ quan nào xét duyệt.

Ngược lại, nhiều chương trình hỗ trợ được thiết kế rất công phu, mục tiêu rất tốt, thậm chí đã bố trí nguồn lực, nhưng số DN thực sự thụ hưởng lại không nhiều. Lý do là hồ sơ phức tạp, thẩm định kéo dài, chi phí tiếp cận cao. Có DN tính toán và thấy rằng công sức bỏ ra để xin còn lớn hơn khoản hỗ trợ nhận được, nên họ bỏ qua.

Muốn chính sách tự tìm đến DN, theo tôi cần mấy nguyên tắc thiết kế. Một là tiêu chí phải đơn giản, khách quan, đo được, không để chỗ cho cách hiểu tùy nghi. Hai là tận dụng dữ liệu Nhà nước đã có, từ dữ liệu thuế, bảo hiểm xã hội đến đăng ký DN để tự xác định đối tượng thụ hưởng, không bắt DN nộp lại những gì cơ quan nhà nước đã nắm. Ba là ưu tiên truyền dẫn chính sách qua những kênh tự động như kê khai thuế, thay vì qua các chương trình cấp phát. Bốn là chuyển mạnh sang hậu kiểm: DN tự xác định, tự chịu trách nhiệm, Nhà nước kiểm tra sau và xử lý nghiêm nếu gian lận.

Qua nhiều năm khảo sát, nhu cầu lớn nhất của DN nhỏ và vừa là thủ tục đơn giản, thuế dễ thực hiện, được thanh toán đúng hạn, tiếp cận thị trường bình đẳng và rút khỏi thị trường thuận lợi nếu kinh doanh không thành công. Những nhu cầu đó lớn hơn nhiều so với việc xin ngân sách.

Đáng chú ý, đề xuất chuyển từ Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sang Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được xem là bước chuyển quan trọng, từ hỗ trợ thụ động sang kiến tạo phát triển, lấy DN làm trung tâm và đo bằng kết quả đầu ra.

Sự thay đổi này không nên dừng ở tên gọi. “Hỗ trợ” dễ dẫn đến cách nghĩ Nhà nước có một nguồn lực, một chương trình, rồi DN tự tìm đến và chứng minh để được nhận. “Phát triển” thì phải đặt một câu hỏi khác: Nhà nước cần tháo bỏ những gì để DN tự lớn lên. Khi chính sách tự tìm đến đúng DN thay vì DN phải đi tìm chính sách, chi phí tuân thủ và cơ hội xin cho sẽ giảm đáng kể, nguồn lực hỗ trợ sẽ đi vào nền kinh tế nhanh hơn.

Vì sao “đường ray” thể chế đã thông thoáng hơn nhưng “đoàn tàu” DN vẫn chậm, vẫn vướng? Đâu là điểm quan trọng cần thay đổi để thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tế, thưa ông?

Đây có lẽ là một trong những thách thức lớn nhất của cải cách hiện nay, và cũng là điều DN đang rất sốt ruột.

Chủ trương, chính sách ở Trung ương rất thông thoáng, tốc độ xây dựng pháp luật cũng nhanh chưa từng có. Nhưng khi DN triển khai một dự án cụ thể, làm một thủ tục cụ thể tại địa phương thì vẫn còn sự chậm trễ. Theo tôi, khoảng cách này đến từ ba lý do.

Thứ nhất là khoảng trống giữa luật và văn bản hướng dẫn. Luật đã có hiệu lực nhưng nghị định, thông tư chưa kịp ban hành, hoặc ban hành rồi nhưng chưa thống nhất với nhau. Trong khoảng trống ấy, cán bộ không dám làm, DN không biết làm thế nào. Cần có cơ chế để khi các cơ quan hiểu khác nhau thì có một đầu mối đưa ra cách hiểu thống nhất, có giá trị áp dụng, trong thời hạn rõ ràng.

Thứ hai là chênh lệch giữa các địa phương. Chỉ số PCI cho thấy, dù thủ tục hành chính trực tuyến đã được cải thiện, các chỉ số về tính chủ động, năng động hay “chính quyền kiến tạo” vẫn có khoảng cách đáng kể giữa các tỉnh, thành phố. Dư địa cải thiện nằm ngay ở đây, chỉ cần những địa phương nhóm sau chủ động và năng động như những địa phương làm tốt, vướng mắc của DN sẽ được giải quyết nhanh hơn rất nhiều. Cũng cần lưu ý phân cấp, phân quyền phải đi kèm năng lực và nguồn lực. Giao việc mà không giao đủ người, đủ công cụ thì nút thắt chỉ chuyển từ Trung ương xuống địa phương.

Thứ ba và theo tôi là quan trọng nhất, đó là tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm của người thực thi. Cùng với phân cấp, phân quyền, cần làm rõ trách nhiệm và có cơ chế bảo vệ thực chất người dám làm đúng quy định, dám giải quyết vì lợi ích chung. Khi làm thì có rủi ro, không làm thì an toàn, bộ máy sẽ chọn không làm. Phải đảo ngược điều đó: chậm trễ, né tránh cũng phải là một loại trách nhiệm cần được đo lường và xử lý.

“Đường ray” tốt là điều kiện cần. Nhưng muốn “đoàn tàu” chạy nhanh thì hệ thống tín hiệu, người vận hành và quy trình vận hành phải đồng bộ. Tôi cũng đề nghị công khai thời gian xử lý thực tế của từng loại thủ tục tại từng địa phương. Cái gì được đo và công khai thì cái đó sẽ được cải thiện.

Theo ông, Việt Nam cần ưu tiên cải cách điều gì trong giai đoạn tới để tạo động lực thúc đẩy sự phát triển?

Trước hết, cần thay đổi cách đo kết quả cải cách. Cắt giảm bao nhiêu thủ tục, bao nhiêu điều kiện kinh doanh mới chỉ là chỉ số đầu vào. Chỉ số đầu ra phải là khu vực tư nhân có mạnh lên không, DN nhỏ có trở thành DN vừa, DN vừa có trở thành doanh nghiệp lớn hay không.

Việt Nam đang thiếu lực lượng DN quy mô vừa và lớn. DN khó lớn một phần vì tâm lý “chọn làm bé để đỡ bị để ý”. Nếu càng lớn, DN càng gặp nhiều thủ tục, nghĩa vụ, thanh tra, kiểm tra và rủi ro pháp lý, lớn lên đồng nghĩa với rủi ro tăng lên, thì DN sẽ chọn đứng yên, thậm chí chia nhỏ để tồn tại.

Vì vậy, tôi cho rằng có một số ưu tiên thực hiện trong thời gian tới.

Một là, làm cho việc DN lớn lên trở nên an toàn. Rà soát các ngưỡng quy định khiến DN vừa vượt qua quy mô nào đó là nghĩa vụ, chi phí tăng vọt. Giảm thanh tra, kiểm tra chồng chéo, chuyển mạnh sang quản lý dựa trên rủi ro và dữ liệu. Phân định rõ ràng giữa vi phạm hành chính, tranh chấp dân sự, kinh tế với trách nhiệm hình sự, để DN yên tâm làm ăn.

Hai là, tiếp cận bình đẳng các nguồn lực, nhất là vốn, đất đai và thị trường. DN tư nhân không cần đặc quyền, chỉ cần không bị đối xử kém hơn.

Ba là, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh để DN lớn lên bằng năng lực chứ không phải bằng quan hệ.

Theo Nghị quyết số 216/NQ-CP của Chính phủ, VCCI có trách nhiệm tổng hợp phản ánh, kiến nghị của DN, gửi các cơ quan liên quan trước ngày 5 hàng tháng, đồng thời theo dõi, đôn đốc và báo cáo việc chậm trả lời. Theo ông, cơ chế hiện nay có gì khác so với trước?

Điều quan trọng nhất là thay đổi cách tiếp cận đối với kiến nghị của DN. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo và thiết lập cơ chế thu thập khó khăn, vướng mắc của DN định kỳ chứ không phải theo đợt. Cách tiếp cận của Chính phủ giai đoạn hiện nay là hiệu quả, thực chất, quyết liệt, đến cùng. Khó khăn, vướng mắc của DN được thu thập và giải quyết trước khi có cuộc làm việc trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ và cộng đồng DN. Chỉ trong một thời gian ngắn đã có 9 cuộc làm việc của các Phó Thủ tướng Chính phủ với DN theo từng lĩnh vực với tinh thần cụ thể, thực chất, đến cùng.

Đối thoại không thể chỉ dừng ở việc ghi nhận DN nói gì và cơ quan quản lý trả lời chung chung là xong. Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản giao nhiệm vụ cho VCCI phải tổng hợp các đánh giá, phản ánh của DN để đánh giá chất lượng trả lời của các bộ, ngành. Đánh giá này được đề nghị gửi trực tiếp cho Thủ tướng Chính phủ. Một công văn trả lời đúng hạn nhưng vấn đề vẫn còn nguyên thì chưa thể coi là đã giải quyết. Thước đo phải là vướng mắc có được tháo gỡ dứt điểm hay không.

Kết nối đầu tư