|
| Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đề xuất nâng ngưỡng doanh thu được áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản lên không quá 10 tỷ đồng/năm. Ảnh: Tiên Giang |
Sau hơn 1 năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, ông có thể đánh giá những kết quả nổi bật về phát triển kinh tế tư nhân?
Theo tôi, chuyển biến quan trọng nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW đang từng bước chuyển từ một thông điệp chính trị mạnh mẽ thành những thay đổi cụ thể trong môi trường kinh doanh và hành vi đầu tư của DN. Qua đó, một không gian phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân đang được hình thành.
Việc Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” đặt DN vào một vị thế mới trong mô hình phát triển, là trung tâm của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nhà nước không chỉ quản lý hoạt động kinh doanh mà phải kiến tạo môi trường thuận lợi, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực và thị trường, tạo điều kiện để DN chủ động đầu tư, đổi mới và phát triển.
Sự thay đổi về tư duy đã được chuyển hóa khá nhanh thành thể chế. Nhiều nhiệm vụ theo kế hoạch hành động của Chính phủ dự kiến hoàn thành trong năm 2026 đã được đẩy sớm sang năm 2025. Đến nay, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua gần 20 luật, 3 nghị quyết và ban hành khoảng 40 nghị định để cụ thể hóa các chủ trương của Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Điều đáng chú ý hơn là một phần kết quả cải cách đã có thể lượng hóa. Đến nay đã cắt giảm được 697 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 673 thủ tục và cắt giảm 1.754 điều kiện kinh doanh không cần thiết; thời gian thực hiện thủ tục hành chính giảm 53%, chi phí tuân thủ giảm 54,6% so với năm 2024. Riêng 11 nghị quyết về phân quyền, phân cấp, cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh được ban hành trong năm 2026 dự kiến giúp giảm khoảng 23 nghìn tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm.
Một chỉ số quan trọng khác là niềm tin đang được chuyển hóa thành quyết định kinh doanh. Từ tháng 5/2025, bình quân mỗi tháng có khoảng 18.000 DN thành lập mới. Tính chung cả năm 2025, đã có gần 297.500 DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm 2024; tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8%. Trong 9 tháng đầu năm 2026, có khoảng 223.940 DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động, đưa tổng số DN đang hoạt động lên gần 1,08 triệu.
Cùng với cải cách thể chế, tạo thuận lợi cho DN gia nhập thị trường và phát triển, các chỉ số về tiếp cận và huy động nguồn lực cho khu vực tư nhân phát triển cũng có những chuyển biến đáng chú ý. Đến hết tháng 8/2026, dư nợ tín dụng đối với DN nhỏ và vừa (DNNVV) đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,37% so với cuối năm 2025.
Trong 564 công trình, dự án được triển khai qua ba đợt khởi công, khánh thành trong năm 2025 với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng, thì vốn của khu vực tư nhân đạt khoảng 3,84 triệu tỷ đồng, chiếm 74,6%. Trong 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội (theo giá hiện hành) của khu vực tư nhân đạt gần 1,65 triệu tỷ đồng, chiếm 53%, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy khu vực tư nhân tiếp tục mở rộng đầu tư, trong đó có các dự án quy mô lớn.
Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng ghi nhận một dấu mốc quan trọng khi từ ngày 21/9/2026 chính thức được FTSE Russell nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp, mở thêm dư địa cho khu vực tư nhân kết nối với dòng vốn đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, đây mới là những kết quả bước đầu. Hiệu quả của Nghị quyết số 68 cuối cùng phải được thể hiện qua những thay đổi DN có thể trực tiếp cảm nhận như thủ tục thuận lợi hơn, chi phí thấp hơn, nguồn lực dễ tiếp cận hơn và không gian đầu tư, kinh doanh rộng mở hơn. Khi những chuyển biến về thể chế thực sự chuyển hóa thành năng lực phát triển của DN, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có điều kiện phát huy đầy đủ vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
Nghị quyết số 68 đặt ra nhiều mục tiêu chiến lược, trong đó có mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu DN và có ít nhất 20 DN tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Theo ông, cần có các chính sách hỗ trợ như thế nào để góp phần hiện thực hóa mục tiêu trên, tạo đà cho DN nước ta tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu?
Mục tiêu Việt Nam có 2 triệu DN vào năm 2030 có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Tuy nhiên, mục tiêu này cũng là thách thức lớn trong bối cảnh sức cầu suy giảm, môi trường kinh doanh trong và ngoài nước còn nhiều thách thức, năng lực cạnh tranh của DN còn nhiều tồn tại, đòi hỏi chúng ta phải quyết tâm cao và có hành động mạnh mẽ.
Để đạt được mục tiêu này, tôi cho rằng không chỉ hướng tới con số 2 triệu DN, mà cần phải phát triển được một lực lượng DN có năng suất cao hơn, sức cạnh tranh mạnh hơn và khả năng dẫn dắt những chuỗi giá trị lớn hơn. Điều này đòi hỏi chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ từng DN sang kiến tạo môi trường phát triển cho cả khu vực DN, lấy sự trưởng thành của DN làm thước đo hiệu quả chính sách.
Với quan điểm đó, tôi đề xuất cần tập trung vào ba nhóm giải pháp chính sách.
Thứ nhất, kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch, hiệu quả, bởi vì niềm tin vào thể chế và môi trường kinh doanh là nền tảng quyết định tới đầu tư của DN. Cần phải tiếp tục tháo gỡ rào cản, cắt giảm thực chất thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ, nâng cao trách nhiệm thực thi. Mục tiêu là giúp DN gia nhập thị trường thuận lợi hơn, đầu tư an toàn hơn và yên tâm mở rộng sản xuất, kinh doanh; đồng thời tạo động lực để hộ kinh doanh chuyển đổi, bổ sung lực lượng DN cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục rà soát, tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư, đất đai, xây dựng, quy hoạch…; xử lý dứt điểm quy định mâu thuẫn, chồng chéo tại các văn bản pháp luật; kiểm soát chặt việc ban hành mới thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; tiếp tục cắt giảm chi phí tuân thủ, chi phí logistics, chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.
Hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, ổn định, dễ dự đoán và cơ hội tiếp cận nguồn lực bình đẳng sẽ là nền tảng cho DN yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, cần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh sang DN. Hiện nay, nước ta có hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đây là lực lượng tiềm năng lớn để hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu DN. Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 đã quy định nhiều chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển lên DN, tuy nhiên, kết quả chuyển đổi chưa đạt như kỳ vọng do các hộ kinh doanh còn tâm lý e ngại khi chính thức hóa hoạt động.
Chúng tôi đã đánh giá kỹ lưỡng nguyên nhân và nhận thấy, để thúc đẩy chuyển đổi, bên cạnh hỗ trợ tại thời điểm thành lập, cần quan tâm nhiều hơn đến chi phí và các nghĩa vụ mà hộ kinh doanh phải thực hiện sau khi chuyển lên DN.
Bộ Tài chính đã trình Chính phủ báo cáo Quốc hội Dự án Luật Phát triển DNNVV (thay thế Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017), với một trong các chính sách trọng tâm là hỗ trợ DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh lên DN. Ngoài việc tiếp tục kế thừa các chính sách về tư vấn, đào tạo, hướng dẫn thủ tục, Dự thảo Luật đã bổ sung nhiều cơ chế hỗ trợ thiết thực hơn trong giai đoạn đầu sau chuyển đổi như: giảm chi phí gia nhập thị trường; miễn một số phí, lệ phí ban đầu, giảm chi phí và nghĩa vụ tuân thủ sau chuyển đổi với việc áp dụng cơ chế thuế, kế toán, biểu mẫu và báo cáo tối giản; hỗ trợ sử dụng nền tảng số, phần mềm, dịch vụ kế toán dùng chung... Đặc biệt, Dự thảo đề xuất một cơ chế mới là mô hình quản trị tối giản đối với “DN một người”. Theo đó, đối với hộ kinh doanh chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ và đáp ứng quy mô DN siêu nhỏ, DN không bắt buộc phải có chủ tịch công ty, kế toán trưởng; được tổ chức công tác kế toán phù hợp và áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản.
Như vậy, điểm mấu chốt chúng tôi muốn hướng tới là làm cho khoảng cách từ hộ kinh doanh chuyển đổi lên DN trở nên ngắn hơn và thuận lợi hơn, hỗ trợ giảm chi phí tuân thủ trong giai đoạn đầu để có thể hoạt động ổn định và từng bước phát triển.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh triển khai các chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN, trong đó tập trung giải quyết các điểm nghẽn về tiếp cận nguồn lực đầu vào (đất đai, vốn, nhân lực...), khơi thông các điểm nghẽn để hỗ trợ DN tăng khả năng chống chịu, thích ứng, từ đó giúp DN duy trì, phục hồi và phát triển bền vững hơn.
Bên cạnh đó, các giải pháp hỗ trợ DN nâng cao năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh… cần tiếp tục được triển khai hiệu quả hơn, bám sát nhu cầu của DN và đặc biệt cần đổi mới hình thức hỗ trợ để DN thực sự trở thành trung tâm của các hoạt động hỗ trợ.
Để những định hướng nêu trên đi vào thực tiễn, cần gắn kết các chính sách và nguồn lực hỗ trợ theo nhu cầu phát triển của DN, khắc phục tình trạng phân tán, dàn trải. Nguồn lực nhà nước cần phát huy vai trò “vốn mồi”, dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho quá trình này, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách. Khi DN nhỏ có điều kiện lớn lên, DN lớn phát huy được vai trò dẫn dắt và các mối liên kết trở nên bền chặt hơn, mục tiêu gia tăng số lượng DN sẽ gắn liền với nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của cả khu vực DN, tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa Nghị quyết số 68.
Là đơn vị được giao xây dựng Dự thảo Luật Phát triển DNNVV, xin ông chia sẻ những chính sách mới dự kiến đưa vào Dự thảo Luật nhằm kiến tạo hệ sinh thái DN đồng bộ, tăng cường liên kết giữa các chủ thể và nâng cao hiệu quả hỗ trợ DNNVV phát triển?
Quan điểm của Bộ Tài chính khi xây dựng Dự thảo Luật là chính sách phải tạo điều kiện để DNNVV lớn lên, phát triển bền vững hơn, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và có khả năng cạnh tranh thực chất trên thị trường. DN phải là trung tâm của chính sách, còn Nhà nước tập trung kiến tạo môi trường, khơi thông nguồn lực và tạo động lực để DN chủ động phát triển. Đó cũng là nội hàm của việc đề xuất nâng cấp thành Luật Phát triển DNNVV. Chính sách được thiết kế theo nhu cầu và quá trình trưởng thành của DN, từ hộ kinh doanh chuyển đổi lên DN, từ DN quy mô nhỏ phát triển lên quy mô lớn hơn. Hỗ trợ phải có trọng tâm, có thời hạn, gắn với nâng cao năng lực nội tại và sức cạnh tranh, tạo nền tảng để DN phát triển bền vững trong dài hạn.
Để DN lớn lên, việc khơi thông từng nguồn lực riêng lẻ là chưa đủ. DN cần vốn để đầu tư, cần công nghệ và nhân lực để nâng cao năng suất, đồng thời cần thị trường để tiêu thụ sản phẩm. Các nguồn lực đó phải được kết nối, cùng giải quyết những nhu cầu thiết thực của DN. Vì vậy, một điểm mới quan trọng của Dự thảo Luật là chuyển từ tư duy Nhà nước trực tiếp cung cấp hỗ trợ sang Nhà nước kiến tạo hệ sinh thái và dẫn dắt nguồn lực phát triển.
Trong hệ sinh thái này, các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư, trường đại học, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, chuyên gia, hiệp hội và DN lớn đều có vai trò. DN lớn cần phát huy khả năng dẫn dắt, hình thành chuỗi cung ứng và kéo theo sự phát triển của các DN nhỏ hơn. DNNVV được tạo điều kiện nâng cao năng lực cung ứng, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, đổi mới công nghệ để tham gia sâu hơn, bền vững hơn vào chuỗi giá trị. Nhà nước tập trung tạo lập điều kiện thuận lợi, phát triển hạ tầng dùng chung, kết nối thông tin và phát huy vai trò “vốn mồi” của ngân sách để thu hút các nguồn lực xã hội cùng tham gia.
Một thay đổi đáng chú ý khác là trao quyền chủ động nhiều hơn cho DN trong lựa chọn nội dung và đơn vị hỗ trợ với tinh thần Nhà nước chuyển sang hỗ trợ thứ DN cần. Dự thảo Luật đề xuất cơ chế Phiếu hỗ trợ để DN đủ điều kiện chủ động lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, giải pháp phù hợp trong phạm vi và mức hỗ trợ được xác định. Khi DN có quyền lựa chọn, các đơn vị cung cấp dịch vụ cũng phải nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu. Cùng với đó, thủ tục phải được đơn giản hóa, đẩy mạnh số hóa, khai thác dữ liệu và tăng cường hậu kiểm, bảo đảm hỗ trợ thuận lợi, công khai, minh bạch.
Về chính sách cụ thể, Dự thảo vừa tạo lập những điều kiện phát triển chung, vừa tập trung nguồn lực cho những nhóm DN có khả năng tạo ra sự chuyển đổi rõ nét. Các điểm nghẽn về vốn, mặt bằng, công nghệ, nhân lực và thị trường tiếp tục được ưu tiên tháo gỡ; đồng thời chú trọng giảm chi phí tuân thủ, nâng cao năng lực quản trị và mở rộng cơ hội tham gia mua sắm công. Trên nền tảng đó, chính sách trọng tâm hướng tới DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DN chuyển đổi từ hộ kinh doanh, DN kinh doanh bền vững và DN tham gia chuỗi giá trị, mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế.
Bộ Tài chính đặc biệt quan tâm đến tính thiết thực, khả thi của chính sách đối với DN nhỏ và siêu nhỏ. Ngoài chính sách phát triển “DN một người” như đã chia sẻ ở trên, Dự thảo Luật đề xuất nâng ngưỡng doanh thu lên không quá 10 tỷ đồng/năm để DN, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản.
Yêu cầu xuyên suốt là chính sách phải thực chất hơn, dễ tiếp cận, dễ thực hiện và đo lường được kết quả rõ ràng. Thước đo quan trọng nhất là sự trưởng thành của DN, là sau hỗ trợ, DN có nâng cao năng suất, làm chủ công nghệ tốt hơn, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hay không. Khi từng DN mạnh lên, các mối liên kết trở nên bền chặt hơn, hệ sinh thái DN sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển, đóng góp ngày càng quan trọng cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.