Kích hoạt năng lực và sức bền của doanh nghiệp

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Số doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng, đạt gần 112.000 doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2026, nhưng môi trường kinh doanh vẫn đối mặt với nhiều trở ngại về vốn, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm nay và cả giai đoạn 2026 - 2030, cộng đồng doanh nghiệp cần được hỗ trợ để tăng năng lực chống chịu và sức cạnh tranh trong bối cảnh mới.

Kích hoạt năng lực và sức bền của doanh nghiệp

Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 111,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và hơn 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2026 lên hơn 169,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là điểm sáng phản ánh niềm tin và đà phục hồi của nền kinh tế.

Tuy nhiên, phản ánh từ cộng đồng doanh nghiệp cho thấy, hoạt động sản xuất của một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn nhiều trở ngại. Tại Diễn đàn Kích hoạt tăng trưởng: chính sách vi mô đột phá và mục tiêu tăng trưởng hai con số, TS. Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho biết, hiện nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có đơn hàng nhưng không thể triển khai, nhiều doanh nghiệp có thể tiếp cận thị trường mới nhưng không thể mở rộng sản xuất do không có vốn. Họ không thể tiếp cận được vốn vay ngân hàng với lãi suất cao như hiện nay. Mặt khác, các hợp đồng tín dụng đòi hỏi phải có tài sản thế chấp trong khi đây là điều kiện rất khó đáp ứng với nhiều DNNVV.

Theo ông Nam, chi phí tuân thủ cũng là điểm nghẽn với nhiều DNNVV. Chẳng hạn, với các quy định mới về bảo vệ môi trường, tuân thủ thuế thì các doanh nghiệp lớn có sẵn bộ máy thực hiện. Trong khi đó, dù được cơ quan thuế hỗ trợ tiếp cận nhưng DNNVV vẫn loay hoay tự làm hoặc thuê ngoài dẫn đến chi phí có thể tăng thêm.

Do đó, ông Nam đề xuất ưu tiên hoàn thiện thể chế để DNNVV bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực. Cần thay đổi cách thức giải ngân vốn cho DNNVV theo hướng thẩm định khoản vay dựa vào dòng tiền, đơn hàng, lịch sử hoạt động thay vì chỉ dùng tài sản bảo đảm làm điều kiện và thước đo.

Cùng quan điểm, TS. Phạm Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam vừa là đối tượng chịu tác động của biến động kinh tế trong nước và quốc tế, vừa là chủ thể trung tâm quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp gia nhập thị trường và vốn đăng ký tăng mạnh, cho thấy tinh thần kinh doanh còn tích cực. Tuy nhiên, ông Tuấn nhìn nhận, phần lớn doanh nghiệp có vốn thấp, lao động ít, doanh thu nhỏ và tỷ suất lợi nhuận mỏng. Năng lực doanh nghiệp yếu làm hạn chế khả năng tích lũy, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường và tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

Ông Tuấn chỉ ra một số điểm nghẽn của doanh nghiệp, cản trở mục tiêu tăng trưởng cao, gồm: điểm nghẽn từ góc độ chi phí tuân thủ, tính ổn định, hiệu quả thực thi; điểm nghẽn từ nguồn lực với sự hạn chế tiếp cận về vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ, dữ liệu; điểm nghẽn từ thị trường do thiếu đầu ra, khó đáp ứng tiêu chuẩn, mối liên kết yếu trong chuỗi giá trị.

Lãnh đạo Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới đề xuất một số chính sách hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp chuyển đổi theo chiều sâu, đo bằng năng suất, chi phí, thị trường và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn. Theo đó, cần hỗ trợ theo năng lực và giai đoạn phát triển trên nguyên tắc hỗ trợ phải tạo năng lực mới, không chỉ bù đắp khó khăn ngắn hạn. Cụ thể, hộ kinh doanh và DN siêu nhỏ cần được hỗ trợ để thực hiện được các thủ tục kế toán, thuế, pháp lý, thị trường; DNNVV cần được hỗ trợ về tín dụng, quản trị, công nghệ, nhân lực, tiêu chuẩn; DN tăng trưởng cao cần được hỗ trợ để mở rộng quy mô, gọi vốn, xuất khẩu, đổi mới; DN có tính dẫn dắt cần được hỗ trợ trong công tác nghiên cứu và phát triển (R&D), xây dựng mạng lưới cụm ngành, nhà cung ứng, lan tỏa công nghệ.

Bên cạnh đó, cần có các gói chính sách vi mô đột phá như cải cách thể chế vi mô từ việc giảm chi phí tuân thủ, tăng hiệu quả công tác dự báo; khơi thông nguồn lực từ vốn, đất đai, lao động, công nghệ; phát triển thị trường vốn mạnh mẽ hơn để giảm lệ thuộc tín dụng ngân hàng; có các chính sách thuế khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực R&D, chuyển đổi số, ESG; xây dựng dữ liệu và hạ tầng số cho cộng đồng doanh nghiệp; phát triển các cụm ngành và chuỗi giá trị.

“Cần thực hiện các giải pháp toàn diện để thúc đẩy các doanh nghiệp lớn lên, nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tăng khả năng chống chịu, từ đó đóng góp tích cực và tạo động lực cho tăng trưởng hai con số. Thúc đẩy tăng trưởng cần được nhìn nhận từ khía cạnh kích hoạt khả năng sống sót, lớn lên, đổi mới và tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp Việt Nam”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Kết nối đầu tư