Khơi thông “tam giác nguồn lực” cho doanh nghiệp bứt phá

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những bước ngoặt chiến lược, việc khơi thông mọi nguồn lực để thúc đẩy doanh nghiệp (DN) tư nhân trong nước lớn mạnh đóng vai trò quyết định đối với tính tự chủ và sức sống của nền kinh tế.

Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay của doanh nghiệp tư nhân là năng suất lao động và khả năng tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao. Ảnh: Lê Tiên
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay của doanh nghiệp tư nhân là năng suất lao động và khả năng tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao. Ảnh: Lê Tiên
00-14-1.jpg
LS. Trương Thanh Đức

Trao đổi với phóng viên, LS. Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cho rằng, để tạo động lực bứt phá cho DN tư nhân trong nước, cần hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn vốn, đất đai và nhân lực cho phát triển thực chất.

Từ bức tranh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có thể thấy khối DN tư nhân trong nước vẫn đang phải đối mặt với nhiều lực cản. Dưới góc nhìn pháp lý, đâu là những “nút thắt” kìm hãm sự bứt phá của khối DN này?

Nếu nhìn nhận một cách tổng thể và thấu đáo, gốc rễ của mọi vấn đề trong nền kinh tế - từ bài toán vốn, nguồn nhân lực cho đến đất đai và thủ tục triển khai dự án - đều bắt nguồn từ khung khổ thể chế và các quy định pháp luật.

Lịch sử phát triển nền kinh tế Việt Nam qua các thời kỳ đã minh chứng: Mỗi khi nền kinh tế có những bước đột phá mạnh mẽ, bản chất sâu xa đều nằm ở việc tháo bỏ được các rào cản về cơ chế. Ở những thời điểm đó, vướng mắc lớn nhất không phải là thiếu tiền, thiếu nhân lực, thiếu tài nguyên, mà chính là những nút thắt trong cơ chế quản lý và điều hành.

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu cấp thiết đặt ra là tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý thực sự thông thoáng để giải phóng sức sản xuất. Khi môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi, người dân và DN mới có thể yên tâm đầu tư dài hạn, mạnh dạn khởi nghiệp và dấn thân vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh cốt lõi.

Ông nhấn mạnh yếu tố thể chế, phải chăng hệ thống pháp luật hiện hành vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn, khiến DN cảm thấy e dè trong quá trình thực thi?

Đúng vậy. Một thực tế đáng suy ngẫm là trong nhiều năm qua chứng kiến số lượng các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành rất lớn, nhưng tính đồng bộ, ổn định và có thể dự báo vẫn là vấn đề DN chờ đợi và mong mỏi nhất.

Hệ thống pháp luật kinh tế đôi khi vẫn còn sự giao thoa, chồng chéo hoặc mâu thuẫn giữa các luật chuyên ngành (như Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Doanh nghiệp và các quy định về tài chính DN, tín dụng). Sự chồng chéo này có thể tạo ra rủi ro pháp lý cho DN. DN làm ăn chân chính rất sợ những rủi ro như chính sách thay đổi đột ngột hoặc cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan thực thi. Khi rủi ro pháp lý vượt quá biên độ chịu đựng, dòng vốn đầu tư có xu hướng chững lại, dòng tiền dịch chuyển sang các kênh an toàn hơn thay vì dồn vào sản xuất, kinh doanh dài hạn.

Xét về cấu phần đầu tiên trong tam giác nguồn lực chiến lược là nguồn vốn, DN tư nhân thường xuyên phản ánh về những khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng hoặc huy động vốn trung, dài hạn. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Về lý thuyết, nền kinh tế không thiếu thanh khoản, nguồn vốn trong xã hội và hệ thống ngân hàng rất lớn. Tuy nhiên, nút thắt nằm ở tiêu chuẩn tiếp cận, điều kiện tài sản đảm bảo và mức độ rủi ro pháp lý của dự án.

Khi khung pháp lý về tài sản đảm bảo - đặc biệt là tài sản hình thành trong tương lai, quyền sử dụng đất hoặc các dự án đầu tư - còn vướng mắc về thủ tục chuyển nhượng, định giá hay xử lý tài sản thế chấp, thì các tổ chức tín dụng buộc phải thận trọng. Sự thận trọng này vô hình trung làm chậm dòng chảy tín dụng đến những khu vực thực sự cần vốn cho sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh kênh tín dụng ngân hàng, thị trường vốn (bao gồm thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu DN) cần phải được củng cố niềm tin thông qua việc nâng cao tính minh bạch, chuẩn mực công bố thông tin và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư. Khi thị trường vốn phát triển lành mạnh, áp lực cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng sẽ vơi nhẹ, giúp DN có thêm nhiều kênh huy động vốn trung và dài hạn với chi phí hợp lý.

Bên cạnh nguồn vốn, đất đai được xem là tư liệu sản xuất quan trọng, đồng thời cũng là lĩnh vực phát sinh nhiều vướng mắc pháp lý nhất khi thực hiện các dự án đầu tư. Theo ông, điểm nghẽn về nguồn lực đất đai đang tác động ra sao đến hoạt động kinh doanh của DN?

Hiện nay, nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội vẫn gặp vướng mắc kéo dài trong các khâu liên quan đến: xác định giá đất cụ thể; thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng; điều kiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; sự đồng bộ giữa các quy hoạch (quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị).

Khi các thủ tục này kéo dài, nguồn lực đất đai bị "đóng băng", dòng vốn đầu tư của DN bị tắc nghẽn, gây lãng phí cơ hội kinh doanh và làm giảm tốc độ tăng trưởng chung. Do đó, việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện sửa đổi các quy định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai cùng các văn bản liên quan theo hướng minh bạch, khả thi, tôn trọng quy luật thị trường và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và DN là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực này.

Đối với yếu tố nhân lực - nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của DN, cần những định hướng pháp lý và chính sách hỗ trợ gì để khối DN nội nâng cao năng lực cạnh tranh, thưa ông?

Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay của DN tư nhân là năng suất lao động và khả năng tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao.

Khu vực DN tư nhân thường gặp bất lợi trong cạnh tranh về chế độ đãi ngộ, thu nhập so với khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hay các tập đoàn lớn. Vì vậy, các chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước cần tập trung mạnh mẽ vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng chuyên sâu, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, cơ sở đào tạo với nhu cầu thực tế của DN.

Bên cạnh đó, các thủ tục hành chính liên quan đến thu hút chuyên gia, lao động trình độ cao, chính sách ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân cho nhân lực công nghệ thông tin, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng cần cởi mở hơn nữa để tạo sức hút thực sự cho thị trường lao động trong nước.

Từ góc độ của một chuyên gia pháp lý, ông có khuyến nghị nào với cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng DN để cải thiện chất lượng môi trường đầu tư?

Để tạo động lực bứt phá cho DN, tạo bước chuyển biến thực chất cho nền kinh tế, theo tôi, cần tập trung vào một số định hướng trọng tâm.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế và đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", giảm bớt các loại giấy phép con không cần thiết, tạo không gian tự do sáng tạo tối đa cho DN trong khuôn khổ pháp luật.

Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao tính ổn định và dự báo được của chính sách. Theo đó, các văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành cần có đánh giá tác động kỹ lưỡng, lấy ý kiến rộng rãi của cộng đồng DN và chuyên gia, đồng thời có lộ trình chuyển tiếp hợp lý để DN có thời gian thích ứng.

Ở góc độ thực thi, cần xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, giải quyết dứt điểm tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, sợ sai, sợ trách nhiệm trong bộ máy hành chính công.

Đối với cộng đồng DN, cần chủ động nâng cao năng lực quản trị DN, chú trọng chuẩn hóa hệ thống quản lý tài chính, minh bạch hóa thông tin, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về thuế, lao động, môi trường và chất lượng sản phẩm. Mặt khác, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, DN không thể mãi dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hay chi phí thấp, mà phải chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng, công nghệ cao và phát triển bền vững (ESG), đầu tư vào công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Kết nối đầu tư