Hạ nhiệt lạm phát từ chính sách tài khóa

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 10 tháng đầu năm 2026 đã tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước, khiến mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm dưới 4,5% trở nên rất thách thức. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng, các chính sách hỗ trợ tài khóa mạnh mẽ như giảm thuế với mặt hàng xăng dầu, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm giá điện sẽ góp phần hãm đà tăng chi phí đầu vào sản xuất kinh doanh, từ đó kiềm chế lạm phát hiệu quả.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 10 tháng đầu năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước, làm gia tăng áp lực lên mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm ở mức 4,5%. Ảnh: Nhã Chi
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 10 tháng đầu năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước, làm gia tăng áp lực lên mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm ở mức 4,5%. Ảnh: Nhã Chi

Số liệu được Cục Thống kê công bố ngày 3/11 cho biết, CPI tháng 10/2026 tăng 0,2% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. Bình quân 10 tháng năm 2026, CPI tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,24%.

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 10/2026 tăng 5,09%. Tất cả 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính đều tăng giá. Đáng chú ý, nhóm giao thông tăng cao nhất với mức 15,57%, tác động làm CPI chung tăng 1,55 điểm phần trăm. Trong đó, giá nhiên liệu tăng 35,03% do giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,5%, tác động làm CPI chung tăng 1,47 điểm phần trăm. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,58%, làm CPI chung tăng 1,28 điểm phần trăm; trong đó giá nhóm lương thực tăng 0,22%, thực phẩm tăng 2,85%, ăn uống ngoài gia đình tăng 6,91% do chi phí nguyên nhiên vật liệu đầu vào và chi phí vận hành tăng.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ, chuyên gia kinh tế - tài chính, với những giải pháp quyết liệt của Chính phủ và các bộ ngành, đà tăng giá cả hàng hóa dịch vụ được kiểm soát tích cực trong tháng 10. Tuy nhiên, việc đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm ở mức 4,5% là rất khó khăn bởi tính bình quân 10 tháng đã ở mức 4,57%. Để đưa lạm phát bình quân cả năm về đúng mục tiêu 4,5%, trong hai tháng cuối năm (tháng 11 và tháng 12), mỗi tháng CPI phải giảm khoảng 0,15% so với tháng trước. Đây là một kịch bản thách thức vì tiêu dùng cuối năm thường có xu hướng tăng cao.

TS. Nguyễn Đức Độ phân tích, trong thời gian qua, Chính phủ và các cơ quan quản lý đã nỗ lực sử dụng các công cụ tài khóa và giá cả, như chính sách giảm các loại thuế cùng giảm giá điện để hỗ trợ nền kinh tế. Mặc dù vậy, giá xăng dầu thế giới vẫn là biến số quyết định. “Nếu giá xăng dầu thế giới tiếp tục đứng ở mức cao hoặc tăng, việc kéo giảm CPI sẽ gặp rào cản lớn. Ngược lại, nếu giá nhiên liệu thế giới đảo chiều giảm mạnh trong thời gian tới, Việt Nam có cơ hội đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát năm nay dưới 4,5%. Khả năng cao CPI cả năm 2026 sẽ xoay quanh mức 4,6% - 4,7%”, ông Độ nhấn mạnh.

Cùng xu hướng dự báo này, trong báo cáo mới công bố, Ngân hàng Standard Chartered nâng dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2026 từ mức 4,4% lên 4,7% và nâng dự báo năm 2027 từ 3,3% lên 3,9%. Khối nghiên cứu của ngân hàng này dự báo lạm phát sẽ đạt đỉnh ngắn hạn ở mức 5,2% so với cùng kỳ trong quý IV/2026, duy trì ở mức 4,6% trong quý I/2027 trước khi hạ nhiệt rõ nét xuống 3,3% trong quý II/2027.

Từ góc độ phân tích thị trường tài chính và chi phí doanh nghiệp, ông Nguyễn Minh Tuấn, CEO của AFA Capital lưu ý đến mối tương quan giữa kiểm soát lạm phát với mặt bằng lãi suất và hiệu quả của các chính sách tài khóa. Theo đó, chỉ khi lạm phát được kiểm soát một cách bền vững thì nền kinh tế mới có dư địa để hạ lãi suất tiết kiệm cũng như hạ lãi suất cho vay một cách thuận lợi theo cơ chế thị trường. Ngược lại, nếu lạm phát và kỳ vọng lạm phát vẫn ở mức cao, dòng tiền trên thị trường sẽ tiếp tục e ngại và yêu cầu mức lãi suất đòi hỏi cao hơn, gây áp lực lên chi phí vốn của doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới định giá các tài sản đầu tư.

Đánh giá về các công cụ hạ nhiệt lạm phát hiện nay, ông Tuấn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ thông qua việc giảm giá các mặt hàng đầu vào cốt lõi. Trong đó, quyết định giảm 2% giá bán lẻ điện bình quân xuống mức 2.159,903 đồng/kWh áp dụng từ ngày 01/11/2026 là một điểm tựa rất lớn, đánh dấu lần đầu tiên giá điện điều chỉnh giảm sau 20 năm liên tục tăng.

15.jpg
Tốc độ tăng CPI các tháng năm 2026 và năm 2025 so với cùng kỳ năm trước. Nguồn: Cục Thống kê

Do nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng chiếm trọng số lớn (gần 20%) trong rổ tính CPI, việc giảm giá điện không chỉ trực tiếp giảm hóa đơn tiêu dùng của hộ gia đình mà còn giúp các ngành sản xuất tiêu thụ nhiều năng lượng như xi măng, sắt thép, dệt may tiết giảm đáng kể chi phí đầu vào. Điều này tạo tác động lan tỏa hỗ trợ tích cực cho các dự án đầu tư công và hạ giá thành sản xuất. Cùng với giá điện là các chính sách ưu đãi thuế đối với mặt hàng xăng dầu, bao gồm việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt 0% đối với xăng từ ngày 1/11/2026 đến hết năm 2027, kết hợp với việc đưa thuế bảo vệ môi trường về 0 đồng và giảm thuế nhập khẩu ưu đãi giúp giảm giá xăng dầu.

Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội tại Quốc hội vừa qua, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết sẽ kiểm soát CPI ở mức khoảng 4,5%.

Sự can thiệp kịp thời như trên không chỉ giúp kiềm chế CPI mà còn kéo giảm chỉ số giá sản xuất (PPI) của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Bên cạnh đó, chính sách giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các cơ sở kinh doanh có doanh thu dưới 10 tỷ đồng trong năm 2026 - 2027 đang đóng vai trò "bệ đỡ" quan trọng giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn chi phí đầu vào tăng nhanh hơn giá đầu ra.

Kết nối đầu tư