Đối với các gói thầu cung cấp thuốc thuộc danh mục đấu thầu tập trung thuốc quốc gia giai đoạn 2024-2026 đợt 1, 03 Sở Y tế tỉnh/thành phố có giá trị phân bổ trên 100 tỷ đồng có tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu đến hết ngày 31/12/2025 dưới 25% (tương đương dưới 50% theo tiến độ thực hiện). Cụ thể, kết quả thực hiện của TP. Cần Thơ đạt 20,8% (20,902 tỷ đồng/100,506 tỷ đồng); tỉnh An Giang đạt 19,2% (38,474 tỷ đồng/200,02 tỷ đồng); tỉnh Đồng Nai đạt 21,3% (26,243 tỷ đồng/123,108 tỷ đồng).
Ở đợt 2, cả nước có 07 Sở Y tế tỉnh/thành phố có giá trị phân bổ trên 50 tỷ đồng có tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu đến hết ngày 31/12/2025 dưới 21,43% (tương đương dưới 50% theo tiến độ thực hiện). Đơn cử, kết quả thực hiện của TP. Hải Phòng đạt 8,1% (10,599 tỷ đồng/131,571 tỷ đồng); tỉnh Ninh Bình đạt 9,3% (10,553 tỷ đồng/112,994 tỷ đồng); tỉnh Phú Thọ đạt 7,2% (7,458 tỷ đồng/103,431 tỷ đồng; tỉnh Thái Nguyên đạt 3,8% (3,214 tỷ đồng/83,909 tỷ đồng; tỉnh Hưng Yên đạt 13,6% (9,786 tỷ đồng/72,206 tỷ đồng; tỉnh Bắc Ninh đạt 12,8% (7,899 tỷ đồng/61,75 tỷ đồng; tỉnh Gia Lai đạt 14,9% (7,793 tỷ đồng/52,475 tỷ đồng.
Từ thực tế này cho thấy, khâu lập kế hoạch sử dụng, điều phối và triển khai mua sắm tại các cơ sở y tế vẫn còn nhiều bất cập, chưa sát với nhu cầu thực tiễn.
Theo đề nghị của Trung tâm Mua sắm tập trung thuốc quốc gia, các cơ sở y tế phải chủ động lập kế hoạch sử dụng và phối hợp với các cơ sở y tế khác và nhà thầu để điều tiết đối với các thuốc trúng thầu đảm bảo cung ứng thuốc cho nhu cầu điều trị và đáp ứng và đạt tỷ lệ thực hiện tối thiểu 80% số lượng thuốc được phân bổ theo quy định.
Từ góc độ nhà thầu, việc các chủ đầu tư thực hiện kết quả trúng thầu thấp, không đạt tỷ lệ tối thiểu 80% số lượng thuốc được phân bổ như kế hoạch đang gây ra nhiều hệ luỵ. Đại diện một số nhà thầu cho rằng, tình trạng sử dụng thấp kéo dài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chuẩn bị nguồn hàng, kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhập khẩu và bảo quản thuốc. Đặc biệt, với những thuốc có thời hạn sử dụng ngắn, nguy cơ hết hạn phải huỷ bỏ là rất lớn, dẫn đến thiệt hại tài chính không nhỏ cho doanh nghiệp.
Ở chiều ngược lại, Trung tâm cũng ghi nhận những vi phạm chế độ báo cáo từ phía nhà thầu. Tính đến ngày 31/12/2025, 02/58 nhà thầu không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định, gồm có: Công ty CP Dược phẩm và Thiết bị y tế Phúc Lộc, Liên danh Công ty CP VIDL - Tiến Thành.
Theo Trung tâm, trường hợp nhà thầu không đảm bảo cung ứng thuốc, các cơ sở y tế xử lý theo hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Trường hợp nhà thầu thực hiện gói thầu vi phạm hợp đồng, không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ, chất lượng, hiệu quả của gói thầu, Trung tâm sẽ xử lý theo quy định. Trường hợp nhà thầu không báo cáo đúng hạn, Trung tâm sẽ dừng việc thực hiện điều tiết các thuốc trúng thầu của nhà thầu do không có cơ sở dữ liệu và sẽ xử lý theo quy định.
Thực tế, trong bối cảnh tỷ lệ sử dụng thuốc không đồng đều giữa các cơ sở y tế, biến động mô hình bệnh tật khác nhau, vai trò điều tiết của Trung tâm là hết sức quan trọng. Trước nguy cơ thiếu thuốc tại Bệnh viện Bạch Mai tại đợt 1, Trung tâm đã điều chuyển bổ sung kịp thời 30.000 lọ Tenamyd-Ceftazidime 2000 do Nhà thầu Liên danh Dược Thiết bị y tế Hà Giang - ATK trúng thầu cung cấp từ Bệnh viện đa khoa Nam Định và 10.000 lọ từ Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng sang để đáp ứng nhu cầu điều trị. Tương tự, Bên mời thầu cũng đã điều chuyển 25,000 viên thuốc Axitan 40mg từ Trung tâm Y tế huyện Mê Linh cho Trạm Y tế xã Quang Minh, và 20,000 cho Trạm Y tế xã Yên Lãng… Những động thái này góp phần hạn chế nguy cơ thiếu cục bộ, song cũng cho thấy sự bất cập trong khâu dự báo và phân bổ ban đầu. Do đó, cần sớm nâng cao năng lực lập kế hoạch, tăng cường trách nhiệm thực hiện của các cơ sở y tế, nhà thầu, nếu không thì nguy cơ lãng phí nguồn lực, mất cân đối cung cấp và rủi ro thiếu thuốc cục bộ sẽ còn tiếp diễn trong các năm tới.
Trong khi đó, các gói thầu thuốc thuộc danh mục đàm phán giá lại ghi nhận tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu cao hơn hẳn so với đấu thầu tập trung quốc gia.
Cụ thể, các gói thầu cung cấp 24 thuốc thuộc Danh mục đàm phán giá năm 2021 cho các cơ sở y tế thuộc Quyết định 3460/QĐ-BYT ngày 27/12/2022 từ 12/01/2023 đến hết ngày 11/01/2025 (thời gian thực hiện 24/24 tháng) đạt 80,93% (2.741,1 tỷ đồng/3.386,6 tỷ đồng). Giá trị thực hiện các gói thầu cung cấp 18 thuốc thuộc Danh mục đàm phán giá năm 2021 cho các cơ sở y tế thuộc Quyết định 67/QĐ-BYT ngày 02/11/2022 từ 06/02/2023 đến hết ngày 05/02/2025 (thời gian thực hiện 24/24 tháng) đạt 79,2% (3.288,8 tỷ đồng/4.151,7 tỷ đồng). Giá trị thực hiện các gói thầu cung cấp thuốc biệt dược gốc Navelbine 30mg thuộc Danh mục đàm phán giá năm 2021 cho các cơ sở y tế thuộc Quyết định 1680/QĐ-BYT ngày 03/4/2023 từ 17/4/2023 đến hết ngày 31/03/2024 (thời gian thực hiện 23/24 tháng) đạt 59,3% (451,7 tỷ đồng/761,5 tỷ đồng).