|
| Ảnh chỉ mang tính minh họa |
Tại Gói thầu số 04 Thiết kế, cung cấp hàng hóa và xây lắp (EPC) thuộc Dự án Nâng cấp hệ thống xử lý khí thải NMNĐ Hải Phòng 1 và 2 (3.100 tỷ đồng) sau khoảng 1 tháng thông báo mời thầu đã có 23 lượt đề nghị làm rõ HSMT, tập trung vào một số nội dung chính. Cụ thể, các nhà thầu cho rằng yêu cầu tiến độ tổng thể 7 tháng là “không thực tế” và đề xuất tiến độ thực hiện từ 18 - 22 tháng. Tương tự, về thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu (HSDT), nhà thầu đề nghị kéo dài từ 37 ngày lên từ 60 - 90 ngày.
Về tiêu chí hợp đồng tương tự, HSMT yêu cầu phải có tích hợp ESP (bộ lọc bụi tĩnh điện), FGD (hệ thống khử lưu huỳnh trong khói thải) và SCR (khử xúc tác chọn lọc) với giá trị ≥ 1.562 tỷ đồng đã nghiệm thu tạm thời/sơ bộ hoặc nghiệm thu cuối cùng. Không cho cộng gộp hợp đồng dùng EP/C riêng lẻ. Nhà thầu cho rằng, tiêu chí hợp đồng tương tự như trên khiến số lượng nhà thầu có thể đáp ứng yêu cầu tại HSMT bị thu hẹp đáng kể.
Về cơ chế liên danh, nhà thầu đề nghị làm rõ 3 vấn đề gồm: Thành viên liên danh có phải đáp ứng đủ 3 hệ thống (ESP, FGD, SCR) không? Phân chia công việc theo thiết bị - xây lắp thì chứng minh năng lực theo phần việc hay toàn bộ? Nhà thầu cho rằng, yêu cầu tại HSMT làm phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn trong việc xác định ngưỡng đáp ứng của từng thành viên liên danh.
Ngoài ra, nhà thầu phản ánh, nhiều tài liệu kỹ thuật chỉ được cung cấp ở mức tham khảo, buộc nhà thầu phải tự khảo sát và hoàn thiện toàn bộ giải pháp thiết kế. Một số yêu cầu kỹ thuật (như lưu lượng khí, áp suất, vật liệu) được nhà thầu đề nghị điều chỉnh để phù hợp thực tế, nhưng chưa được chấp thuận.
Về điều kiện tài chính và thủ tục, nhà thầu băn khăn một số nội dung như: yêu cầu báo cáo tài chính năm 2025 (hiện chưa kiểm toán); tỷ giá áp dụng cứng tham chiếu Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là chưa phù hợp với thực tiễn triển khai quốc tế…
Một nhà thầu ở TP.HCM đề xuất kéo dài thời gian chuẩn bị hồ sơ từ khoảng 37 ngày lên 60 - 90 ngày, đồng thời điều chỉnh tiến độ thực hiện từ 7 tháng theo yêu cầu HSMT lên tới 18 - 22 tháng là có cơ sở. Theo nhà thầu, thực tế các dự án EPC tương tự thường có quy mô lớn, tính chất phức tạp, đòi hỏi thời gian sản xuất thiết bị, thi công, tích hợp và chạy thử. Đối với nhà thầu quốc tế, chỉ riêng việc thu xếp bảo lãnh dự thầu tại ngân hàng Việt Nam đã mất từ 3 - 4 tuần, chưa kể thời gian khảo sát hiện trường, lập phương án kỹ thuật và đàm phán liên danh. Do đó, thời gian chuẩn bị hồ sơ dưới 40 ngày được đánh giá là “khó khả thi”.
Gói thầu EPC Thiết kế, cung cấp và lắp đặt hệ thống xử lý khí thải dây chuyền 2 tại Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại cũng ghi nhận hơn 20 lượt văn bản kiến nghị gia hạn thời gian và làm rõ tiêu chí kỹ thuật. Một trường hợp khác cũng có tới 24 lượt yêu cầu làm rõ sau 1 tháng mời thầu là Gói thầu 08EPC-XLKTUB-2026 thuộc Dự án Nâng cấp cải tạo hệ thống xử lý khí thải lò hơi tổ máy 300MW và 330MW NMNĐ Uông Bí.
Ngoài các gói thầu nêu trên, 3 gói thầu khác gồm: Gói số 4EP-DCSNS1-2026 thuộc Dự án Nâng cấp hệ thống điều khiển DCS và các hệ thống điều khiển trạm phụ NMNĐ Nghi Sơn 1; Gói Cung cấp thiết bị, thi công xây dựng, lắp đặt, giám sát và phối hợp trong quá trình chạy thử hệ thống nước làm mát và Gói thầu Cung cấp vật tư thiết bị, thi công xây dựng, lắp đặt, giám sát và phối hợp trong quá trình chạy thử hệ thống vận chuyển than đều thuộc Dự án Đầu tư xây dựng công trình NMNĐ Long Phú 1 cũng phát sinh nhiều yêu cầu làm rõ.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng yêu cầu làm rõ, mà còn ở cách thức phản hồi của nhiều chủ đầu tư. Tại nhiều văn bản trả lời làm rõ, chủ đầu tư chỉ ghi nhận ý kiến của nhà thầu, nhưng đề nghị tiếp tục tuân thủ HSMT hiện hành. Với các nội dung liên quan đến tiến độ và thời gian chuẩn bị HSDT, chủ đầu tư thường viện dẫn yếu tố “mục tiêu cấp bách” hoặc “tiến độ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt” để giữ nguyên yêu cầu. Về yêu cầu hợp đồng tương tự, phía chủ đầu tư bảo lưu theo hướng giữ nguyên tiêu chí, đồng thời yêu cầu nhà thầu tuân thủ quy định trong HSMT.
Từ thực tế triển khai có thể nhận thấy các gói thầu EPC ngành nhiệt điện hiện nay đặt ra yêu cầu ngày càng cao nhằm nâng cao chất lượng công trình và kiểm soát rủi ro. Tuy nhiên, để đáp ứng các yêu cầu này, nhà thầu cần thời gian chuẩn bị đủ dài, dữ liệu đầu vào đầy đủ và cơ chế tham gia linh hoạt, đặc biệt trong bối cảnh các dự án EPC thường đòi hỏi sự tham gia của liên danh quốc tế.
Một số ý kiến cho rằng, việc phát sinh yêu cầu làm rõ trong đấu thầu là bình thường, đặc biệt đối với các gói thầu EPC có quy mô lớn và kỹ thuật phức tạp. Tuy nhiên, khi số lượng và nội dung làm rõ tập trung vào các yếu tố nền tảng như tiến độ, dữ liệu và tiêu chí năng lực, câu hỏi đặt ra là liệu cách thiết kế HSMT có hợp lý, có thúc đẩy cạnh tranh, thực sự cân bằng giữa yêu cầu kỹ thuật và khả năng đáp ứng của các nhà thầu hay chưa?