|
| Theo VCCI, hơn 93% khoản vay tại Việt Nam yêu cầu tài sản bảo đảm, tạo ra rào cản mang tính cấu trúc cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn. Ảnh: A.B |
Chia sẻ về thực trạng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay, GS. TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội cho rằng, nhiều doanh nghiệp không thiếu ý tưởng, không thiếu thị trường mà thiếu tài sản bảo đảm nên không thể tiếp cận vốn vay. “Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có nguồn vốn, cần thiết kế gói hỗ trợ tài chính đúng trọng tâm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích ngân hàng cho vay dựa trên dòng tiền, hóa đơn điện tử, dữ liệu thuế, lịch sử giao dịch thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp. Doanh nghiệp làm ăn minh bạch phải được hưởng lợi từ chính sự minh bạch của mình”, ông Mạc Quốc Anh nhấn mạnh.
Thực trạng doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay do thiếu tài sản bảo đảm được phản ánh rõ tại Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam năm 2025 được Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện và công bố tháng 5/2026. Tại Việt Nam, tới 93,5% khoản vay yêu cầu tài sản bảo đảm, cao hơn nhiều so với Malaysia (33,4%) và Thái Lan (55,8%), thậm chí vượt mức trung bình khu vực và toàn cầu. Điều này củng cố nhận định rằng, hệ thống tín dụng vẫn phụ thuộc nặng vào tài sản thế chấp, tạo ra rào cản mang tính cấu trúc đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong năm 2025, tiếp cận vốn tiếp tục là một trong những rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp, với nhiều trở ngại mang tính cấu trúc hơn là ngắn hạn. Nổi bật nhất là yêu cầu về tài sản thế chấp, với 75,5% doanh nghiệp cho biết không thể vay vốn nếu không có tài sản bảo đảm và 54,2% cho rằng việc vay vốn khi không có tài sản thế chấp là rất khó khăn.
Tại Hội nghị Chính phủ với các địa phương mới đây, một trong những đề xuất đáng chú ý của Bộ Tài chính nhằm khơi thông dòng vốn và dòng tiền cho doanh nghiệp là “hoàn thiện hành lang pháp lý cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu, hợp đồng, đơn hàng, khoản phải thu…; mở rộng phạm vi tài sản bảo đảm đối với động sản, hàng tồn kho, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, sở hữu trí tuệ, phần mềm và dữ liệu”.
Ông Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng đánh giá cao đề xuất này, đồng thời cho biết, cho vay dựa trên dòng tiền thực tế thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản thế chấp và đa dạng hình thức tài sản bảo đảm đã được áp dụng ở nhiều nước, trong đó phổ biến tại Mỹ. Tuy nhiên, việc triển khai mô hình cho vay dựa trên dòng tiền tại Việt Nam không đơn giản do doanh nghiệp thường mở nhiều tài khoản tại các ngân hàng khác nhau, khiến tổ chức tín dụng khó kiểm soát đầy đủ dòng tiền.
Bên cạnh đó, ông Hiếu lưu ý nguy cơ phát sinh các giao dịch hoặc hồ sơ mua bán khống nhằm hợp thức dòng tiền để vay vốn. Về bản chất, ngân hàng luôn đặt yếu tố an toàn vốn lên hàng đầu nên vẫn ưu tiên tài sản bảo đảm nhằm hạn chế rủi ro nợ xấu.
“Để triển khai hiệu quả hình thức cho vay dựa trên dòng tiền thì điều quan trọng là doanh nghiệp phải minh bạch hệ thống kế toán, doanh thu và hoạt động tài chính. Khi dữ liệu tài chính đủ rõ ràng, ngân hàng mới có cơ sở đánh giá khả năng trả nợ thay vì chỉ nhìn vào tài sản thế chấp. Bên cạnh đó, việc xem xét đa dạng hóa các loại tài sản đảm bảo phi vật chất cũng cần thiết để hỗ trợ tích cực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn tốt hơn trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp không đủ tài sản bảo đảm”, ông Hiếu nhận xét.
Từ góc độ ngân hàng, một trong những giải pháp được đề xuất là nghiên cứu cho vay theo xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp. Ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối khách hàng doanh nghiệp HDBank cho rằng, cần từng bước giảm sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm và chuyển sang đánh giá doanh nghiệp theo điểm tín nhiệm, phù hợp với quy mô, năng lực tài chính và mức độ rủi ro của từng khách hàng.
“Qua quá trình làm việc với nhiều tổ chức trong và ngoài nước, tôi nhận thấy xếp hạng tín nhiệm có vai trò rất lớn. Khi đó, quyết định cho vay sẽ dựa nhiều hơn vào mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp thay vì phụ thuộc quá nhiều vào đánh giá chủ quan của từng ngân hàng. Nếu điểm tín nhiệm của doanh nghiệp được cải thiện, yêu cầu về tài sản bảo đảm có thể giảm xuống, đồng thời lãi suất cho vay cũng có điều kiện thấp hơn. Vì vậy, Việt Nam cần phát triển hệ thống xếp hạng tín nhiệm đủ tin cậy, minh bạch và được công nhận rộng rãi. Đây sẽ là nền tảng để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận vốn ngân hàng thuận lợi hơn”, ông Phương chia sẻ.
Cũng nhìn từ góc độ bên cho vay, bà Vũ Thị Thu Hà, Giám đốc Sản phẩm tín dụng thuộc Khối khách hàng cá nhân ABBank cho biết, để được vay vốn mua nhà, ngân hàng yêu cầu bắt buộc khách hàng phải minh chứng thu nhập như có hợp đồng lao động, sao kê lương hoặc đăng ký kinh doanh, hóa đơn, sổ sách. Song thực tế, hiện nay có nhiều loại hình kinh doanh, đặc biệt là nhóm kinh doanh online, rất khó chứng minh thu nhập bằng hồ sơ chứng từ đầy đủ. Vì vậy, ngân hàng đưa ra các cái phương pháp để đánh giá thu nhập của khách hàng linh hoạt hơn trong việc ghi nhận nguồn thu.
“Chúng tôi tiếp tục tìm giải pháp hỗ trợ khách hàng tiếp cận vốn, chẳng hạn, khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng một thời gian thì có thể thông qua các dòng tiền qua tài khoản, các sản phẩm huy động mà ngân hàng cho khách hàng gửi tiền… Ngân hàng sẽ không nới lỏng, khách hàng phải đủ năng lực tài chính để vay, nhưng sẽ linh hoạt hơn để khách hàng có thể tiếp cận được dòng vốn của ngân hàng mà không phải lo ngại về việc bắt buộc phải có các chứng từ đầy đủ thì mới có thể vay được”, bà Hà chia sẻ.