|
| Dư địa huy động nguồn lực tư nhân cho y tế vẫn còn rất lớn. Ảnh: Lê Tiên |
Trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng và chi phí y tế không ngừng leo thang, bài toán then chốt không nằm ở việc “tăng chi”, mà là đa dạng hóa và tái cấu trúc các nguồn lực tài chính cho y tế theo hướng bền vững, hiệu quả và công bằng.
Bài toán nguồn lực để tăng cường chăm sóc sức khỏe
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá nhằm tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Trong đó, việc bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản cho mọi người dân, không phân biệt thu nhập hay nơi cư trú, là định hướng chiến lược ưu tiên trong giai đoạn phát triển mới.
Nghị quyết số 72-NQ/TW đặt mục tiêu từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời, từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế. Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi BHYT theo lộ trình.
Để đáp ứng nhu cầu khám sức khỏe miễn phí mỗi năm một lần cho khoảng 100 triệu dân, hệ thống y tế buộc phải được đầu tư, nâng cấp đồng bộ từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đến nhân lực. Thực tế tại nhiều địa phương, y tế cơ sở - tuyến được kỳ vọng là “người gác cổng” của hệ thống - vẫn còn không ít khó khăn. Đại biểu Quốc hội đoàn Quảng Ngãi cho biết, cử tri phản ánh, nhiều trạm y tế xã, phường xuống cấp, thiếu trang thiết bị, đội ngũ cán bộ y tế mỏng và chưa được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, khó đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu trong tình hình mới.
Tại Kỳ họp Quốc hội vừa qua, khi cử tri tỉnh Quảng Ngãi nêu câu hỏi về giải pháp trước thực tế cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tuyến cơ sở xuống cấp, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết, Bộ Y tế đã triển khai nhiều chương trình đầu tư bằng nguồn vốn vay ưu đãi và ngân sách nhà nước, trong đó có Chương trình đầu tư phát triển mạng lưới y tế cơ sở vùng khó khăn với tổng mức đầu tư 110,6 triệu USD (bao gồm 88,6 triệu USD vốn vay, 12 triệu USD vốn viện trợ không hoàn lại và 10 triệu USD vốn đối ứng). Bên cạnh đó, Bộ Y tế đang triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035, được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10 với tổng kinh phí hơn 125.000 tỷ đồng, trong đó đặt mục tiêu xây mới hơn 700 trạm y tế và sửa chữa, nâng cấp hơn 1.000 trạm hiện có trong tổng số 3.321 xã trên cả nước.
Ngoài khám chữa bệnh ban đầu, các chương trình y tế dự phòng cũng đòi hỏi nguồn lực tài chính đáng kể. Để tăng cường tiêm chủng trọn đời cho các lứa tuổi khác nhau, cùng với 13 loại vắc xin miễn phí thuộc Chương trình tiêm chủng mở rộng triển khai giai đoạn 2026 - 2028, PGS.TS.BS Phạm Quang Thái - Phó Trưởng khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm thuộc Viện Vệ sinh dịch tễ cho rằng, hệ thống vận chuyển, dây chuyền lạnh từ Trung ương đến địa phương cần được nâng cấp đồng bộ. Hiện cả nước có 1.158 tủ TCW3000 cấp tỉnh, 3.988 tủ RCW50EG tại cấp xã - con số còn khiêm tốn so với yêu cầu thực tế.
Tuy nhiên, cơ cấu nguồn vốn cho thấy sự phụ thuộc rất lớn vào ngân sách nhà nước, trong khi tỷ trọng vốn huy động từ các nguồn khác còn hạn chế.
Theo các chuyên gia, dư địa huy động nguồn lực tư nhân cho y tế vẫn còn rất lớn, không chỉ thông qua đầu tư bệnh viện, phòng khám, mà còn qua các hình thức hợp tác công - tư, xã hội hóa đầu tư trang thiết bị, dịch vụ cận lâm sàng, logistics y tế. Vấn đề then chốt là cần một khuôn khổ pháp lý minh bạch, ổn định, cùng có lợi để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Củng cố và mở rộng bảo hiểm y tế - trụ cột tài chính then chốt
Nghiên cứu của ASK Health Asia công bố mới đây cho thấy, tại phần lớn các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, chi tiêu y tế từ tiền túi của người dân vẫn chiếm trên 30% tổng chi tiêu y tế thường xuyên, trong khi ngưỡng khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là 15%, tiềm ẩn nguy cơ gây gánh nặng tài chính lớn cho hộ gia đình.
Tại Việt Nam, ASK Health Asia phân tích, Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT) hiện được xem là nguồn tài chính bền vững và ổn định nhất của hệ thống y tế với độ bao phủ trên 90% dân số. Tuy nhiên, chi y tế từ tiền túi vẫn còn cao, trong khi chi ngân sách công cho y tế chưa đạt mức kỳ vọng. Việt Nam hiện có “khoảng trống tài khóa” gần 3% GDP so với mức chi tiêu công lý tưởng cho y tế là khoảng 5% GDP.
Để tiến tới miễn viện phí thực chất, nhiều ý kiến cho rằng, Quỹ BHYT cần tiếp tục được cải cách mạnh mẽ theo hướng mở rộng gói quyền lợi, đặc biệt đối với dịch vụ y tế cơ bản và điều trị bệnh mãn tính; đổi mới phương thức chi trả để hạn chế lạm dụng kỹ thuật cao nhưng vẫn bảo đảm chất lượng; tăng cường chia sẻ rủi ro, trong đó Nhà nước đóng vai trò “người bảo trợ cuối cùng” cho nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.
Song song với BHYT công, việc phát triển các sản phẩm BHYT bổ sung, BHYT thương mại với sự tham gia của khu vực tư nhân cũng được nhiều chuyên gia đánh giá là cần thiết. Đây là cơ chế tài chính vận hành theo nguyên tắc thị trường, trong đó các cá nhân hoặc bên sử dụng lao động mua bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm tư nhân để bổ sung hoặc gia tăng quyền lợi được hưởng tại BHYT công, giảm áp lực lên ngân sách nhà nước.
Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia đã thành công với mô hình BHYT đa tầng. Tại Australia, hệ thống bảo hiểm công toàn dân (Medicare) chi trả các dịch vụ y tế thiết yếu, trong khi BHYT tư nhân đóng vai trò bổ sung. Nhờ các chính sách khuyến khích như trợ cấp phí bảo hiểm dựa trên thu nhập (khoảng 30%), phụ phí đối với người thu nhập cao không mua bảo hiểm tư nhân và tiêu chuẩn hóa các gói bảo hiểm, hiện có khoảng 54% dân số Australia tham gia BHYT tư nhân, biến mô hình này thành trụ cột tài chính quan trọng của hệ thống y tế.
Bên cạnh đó, nhiều mô hình tài chính đổi mới đang được áp dụng hiệu quả tại các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Singapore, từ các chương trình hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo đòi hỏi chi phí điều trị cao (ung thư, bệnh hiếm...), thỏa thuận tiếp cận thuốc dựa trên kết quả điều trị đến mô hình tài khoản tiết kiệm y tế. Tại Trung Quốc, BHYT công là bên chi trả lớn nhất cho các loại thuốc phát minh với khoảng 80% thuốc phát minh được đưa vào danh mục BHYT công chi trả trong vòng 2 năm kể từ khi được cấp phép lưu hành; BHYT tư nhân chi trả đối với các thuốc chuyên khoa, tập trung vào các loại thuốc điều trị ung thư phát minh với giới hạn hoàn trả có thể lên tới 2 triệu nhân dân tệ. Đây là những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình hoàn thiện hệ thống tài chính y tế.
Đa dạng hóa nguồn lực tài chính chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm cải cách mạnh mẽ về quản trị. Hiện nay, thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải và chênh lệch giá trong mua sắm y tế làm tăng chi phí điều trị vẫn là những điểm nghẽn lớn. Nâng cao hiệu quả sử dụng Quỹ BHYT, đẩy mạnh mua sắm công tập trung, minh bạch hóa chi phí là những giải pháp quan trọng để tạo dư địa tài chính cho mục tiêu miễn viện phí.
Miễn viện phí là mục tiêu dài hạn, không thể đạt được trong “một sớm một chiều”. Theo nhiều ý kiến, với lộ trình phù hợp, bắt đầu từ miễn viện phí cho dịch vụ y tế cơ bản và nhóm đối tượng yếu thế, song song với đa dạng hóa nguồn lực tài chính và cải cách quản trị, mục tiêu này là hoàn toàn khả thi.